Giáo phận Bùi Chu

Nhà thờ Giáo xứ Liễu Đề

 

Nhà thờ Giáo xứ Liễu Đề
Giáo hạt Liễu Đề

 

Địa chỉ :      T.tr. Liễu Đề, Nghĩa Hưng, Nam Định ( Bản đồ)

Chánh xứ : Linh mục Đaminh Mai Văn Đảm
Phó xứ     : Linh mục Phêrô Trần Văn Nam (12/12/2015)

Tel

 

E-mail

denthanhlieude@yahoo.com 

Website

http://denthanhlieude.blogspot.com/

Năm thành lập

1691

Bổn Mạng

Đức Mẹ Mân Côi

Số giáo dân

4350

Giờ lễ

Chúa nhật     :

Ngày thường :

Các nhà thờ lân cận :   Gh An Thọ  -  Gh Cát Điền  -  Gh Cống B́nh - Gh Cống Đá  -  Gh Đại Tám - Gh Đông Thượng - Gh Giáp Giáo  -  Gh Liêu Hải  -  Gh Nam Phúc - Gh Nhân Hậu  -  Gh Nhân Thọ  -  Gh Phúc Thọ  -  Gh Thụ Ích  - Gh Thượng Kỳ

Tư liệu :  Lược sử Giáo xứ - H́nh ảnh Giáo xứ 

-  Tin tức sinh hoạt

* Giáo xứ Liễu Đề cầu cho quốc thái dân an (14/5/2017)
* Mở cửa Thương Xót tại Đền Thánh Liễu Đề (13/12/2015)
* Lễ truyền thống Sinh viên Công giáo giáo phận Bùi Chu tại Liễu Đề (22/7/2009)  -  H́nh ảnh

 

Lược sử Giáo xứ Liễu Đề

1. VỊ TRÍ ĐỊA LƯ

Giáo xứ Đền thánh Liễu Đề nằm trên địa bàn thị trấn Liễu Đề, huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định. Liễu Đề trước đây c̣n gọi là Kẻ Đề, vùng đất có dân định cư từ thế kỷ XV.

2. LỊCH SỬ H̀NH THÀNH

Giáo hữu đón nhận Tin mừng từ thời các cha Ḍng Tên, nhưng kết quả chưa đáng kể. Khi các cha Ḍng Đaminh đặt chân đến Cát Vàng (Cát Điền, giáo họ Cát Điền), cách xứ Liễu Đề khoảng 3 km để giảng đạo, từ đó hạt giống Tin mừng trổ sinh trên đất Liễu Đề và không ngừng phát triển mạnh mẽ.

Năm 1691, cha chính Gioan de Santa Cruz Thập bổ nhiệm cha Antôniô Bênađô về coi sóc giáo xứ, cũng thời kỳ này làng Kẻ Đề được đổi tên thành Liễu Đề. Trước năm 1820, cha thánh Tôma Đinh Viết Dụ về coi sóc, và trở thành giáo xứ từ cuối thế kỷ XVII.

Liễu Đề là nguyên quán và nơi phục vụ của nhiều vị tử đạo. Trong số đó có Cha thánh Tôma Đinh Viết Dụ đă gắn bó với giáo xứ cho tới ngày tử đạo (Hiển Thánh, 19/6/1988). Tiếp đến Cha Vĩnh và Cha Hinh tử đạo thời Minh Mệnh. Thời vua Tự Đức cấm đạo có Cha Đường, cha Phú con cụ Khảm Khiêm chịu tử đạo ngày 25/5/1856, và người anh của Cha Phú là Giuse Thi tử đạo ngày 6/6/1862. Ngoài ra trong giáo xứ c̣n nhiều vị tử đạo, hồ sơ án tích đang được giáo phận và Thánh Bộ hoàn tất.

Năm 1906, ngôi nhà thờ kính Đức Mẹ Mân Côi, được xây dựng, dài 50m, rộng 20m, cao 11m, được làm bằng gỗ lim chạm trổ hoa văn. Trong chiến tranh, ngôi nhà thờ bị đánh bom nên thiệt hại nặng, ṭa vàng bị hư hỏng nhưng đă được tu sửa ngay sau đó.

Năm 1934, cha Vinhsơn Roăn xây thêm nhà thờ làm bằng gỗ, dài 30m, rộng 10m, cao 4m để ghi nhớ công ơn Cha thánh Tôma Đinh Viết Dụ; năm 1967 đă bị bom đánh sập.

Năm 2000, đại trùng tu ngôi thánh đường để chuẩn bị mừng đại năm thánh kỷ niệm 100 xây dựng ngôi nhà thờ và 275 năm đón nhận Tin mừng.

Ngày 02/04/2003, Đức cố Giám mục Giuse Hoàng Văn Tiệm đă cung hiến ngôi nhà thờ, kể từ đây giáo xứ có được ngày kỷ niệm lễ cung hiến hàng năm.

Kể từ khi thành lập, giáo xứ Liễu Đề được tăng trưởng và phát triển không ngừng về đời sống đức tin. Các giáo họ trong giáo xứ không ngừng gia tăng, tính đến năm 1916, giáo xứ Liễu Đề có 27 họ:

Kể từ năm 1951 đến nay, giáo xứ Liễu Đề gồm 14 họ: Họ nhà xứ, Liêu Hải, Nhân Hậu, Nhân Thọ, Thượng Kỳ, Cống B́nh, Phúc Thọ, An Thọ, Cát Điền, và Đông Thượng.

Họ An Thọ: thành lập năm 1918, nhận thánh Giuse làm quan thầy. Nhà thờ được xây dựng năm 1918: dài 22m, rộng 16m, cao 6m.

Họ Nhân Thọ: thành lập năm 1884, nhận thánh Vinh Sơn làm quan thầy. Nhà thờ được xây dựng năm 1896: dài 28m, rộng 14m, cao 7m.

Họ Cống B́nh: thành lập năm 1880, nhận thánh Gioan Baotixita làm quan thầy. Nhà thờ được xây dựng năm 1910: dài 26m, rộng 12m, cao 6m.

Họ Phúc Thọ: nhận thánh Tôma làm quan thầy. Nhà thờ được xây dựng năm 1908: dài 24m, rộng 11m, cao 6m.

Họ Nhân Hậu: thành lập năm 1829, nhận Đức Mẹ Lên Trời làm quan thầy. Nhà thờ được xây dựng năm 1908: dài 28m, rộng 11m, cao 7m.

Họ Thượng Kỳ: thành lập năm 1906, nhận thánh Đức Mẹ Vô Nhiễm làm quan thầy. Nhà thờ được xây dựng năm 1930: dài 30m, rộng 12m, cao 10m.

Họ Liêu Hải: thành lập năm 1806, nhận thánh Gioakim làm quan thầy. Nhà thờ được xây dựng năm 1900: dài 28m, rộng 12m, cao 8m.

Họ Cát Điền: thành lập năm 1910, nhận thánh Phanxicô làm quan thầy. Nhà thờ được xây dựng năm 1911: dài 19m, rộng 7m, cao 6m.

Họ Cống Đá: thành lập trước năm 1951.

Họ Giáp Giáo: thành lập năm 1921, nhận thánh Antôn làm quan thầy. Nhà thờ được xây dựng năm 1931: dài 25m, rộng 10m, cao 6m.

Họ Đông Thượng: thành lập năm 1932, nhận thánh Phaolô làm quan thầy. Nhà thờ được xây dựng năm 1932: dài 18m, rộng 6m, cao 5m.

Họ Nam Phúc: thành lập năm 1928, nhận Thánh Gia làm quan thầy. Nhà thờ được xây dựng năm 1938: dài17m, rộng 6m, cao 5m.

Họ Đại Tám: nhận Đức Mẹ Sầu Bi làm quan thầy. Nhà thờ khởi công xây dựng ngày 10/12/2012.

      

Họ Đại Tám                                  Họ Giáp Giáo

           

Họ Liêu Hải                                            Họ Nam Phúc                                      Họ Nhân Hậu

 

                 

Họ Nhân Thọ                                        ThọHọ Phúc Thọ                                  Họ Thượng Kỳ

 

      

Họ Cát Điền                                                Họ Cống B́nh

 

        

Họ Cống Đá                                                                Họ Đông Thượng

Giáo xứ Liễu Đề nhận sắc phong Đền thánh Ḷng Chúa Thương Xót ngày 20/4/2010. Lễ kính Ḷng Chúa thương xót được kính vào CN IIPS.

Số giáo hữu ban đầu năm 1916 là 8.379 người, năm 1951 có 3.559 giáo dân, và tính đến năm 2014 có 4.094 giáo dân.

3. QUƯ CHA PHỤC VỤ GIÁO XỨ

Cha Antôniô Bênađô coi sóc đầu tiên, rồi đến các vị thừa sai ḍng Đaminh như: Cha Tôma Đinh Viết Dụ, cha Vĩnh, cha Hinh, cha Đường. Sau năm 1865 là: Cha Viên, cha Khoan, cha Kiên, cha Đoán, cha Khanh, cha Minh, cha Quản, cha Dụ, cha Độ, cha Doăn, cha Điển, cha Dục, cha Roăn, cha Tư, cha Kim, cha Bân, cha Giuse Tuyển (1916), cha Đaminh Đốc (1916), cha Duyệt (1916), cha Đaminh Thừa (1937), cha Giuse Nhượng (1937-1946), cha Giuse Tôn (1940), cha Đaminh Vinh (1943), cha Phêrô Tín (1943), cha Vinh sơn Bỉnh (1943-1946), cha Đaminh Trần Quang Lịch (1948), cha Phêrô Đinh Tiến Khoa (1951), cha Toản, cha Hiển, cha Đaminh Đỗ An Lộc, cha Đaminh Trần Ngọc Đỉnh(1966 – 2001), cha Gioan.B Vũ Tiến Khang (2002-2005), cha Giuse Lê Thành Tâm (2006-2009), cha Đaminh Phạm Ngọc Tiên (2009-2012), cha Phó Vinhsơn Nguyễn Văn Tứ (2009-2011), cha Phó Giuse Lại Văn Phú (2011-2012), cha Gioan Kim Ngô Minh Mạnh (2012-2013). Cha Đaminh Mai Văn Đảm, 2013 đến nay.

Quư cha bản hương: Cha Đại, cha Tuyên, cha Phong ở Mỹ, cha Khởi ở Nhật. Các Cha phục vụ tại các giáo phận Miền Nam: Cha Thắng, cha Thúy, cha Phán, cha Minh, cha Liên, cha Phong, cha Qúy, cha Điệp, cha Luật, cha Thinh, cha Quế, cha Từ, cha Sự, cha Phaolô Vũ Văn Yên, cha Đaminh Lương Nguyễn Công, cha Vinhsơn-Phaolô Nguyễn Văn Thuấn, cha Đaminh Đinh Quang Vinh, cha Phêrô Ngô Bá Công, cha Đaminh Ngô Quang Tuấn, cha Vinhsơn Nguyễn Hồng Thanh, cha Ngô Quang Định, cha Phêrô Nguyễn Việt Nam, cha Ngô Mạnh Cường. Quư cha phục vụ tại giáo phận Bùi Chu: Cha Giuse Nguyễn Văn Thưởng, cha Giuse Phạm Văn Tứ, cha Đaminh Nguyễn Văn Thiện.

4. CƠ CẤU GIÁO XỨ & CÁC CÔNG TR̀NH TIÊU BIỂU

Hội đồng mục vụ giáo xứ: Ban thường vụ giáo xứ, giáo họ & Các ban ngành đoàn hội: Hội kèn, Hội trống, Ca đoàn, Lễ sinh, Hiền mẫu, Con Đức Mẹ (Trinh Vương), Hội Bảy sự, Viên chức, Huynh đoàn Thánh Thể, Huynh đoàn giáo dân Đaminh, Đức Mẹ Vô Nhiễm, Ḷng Chúa Thương Xót, Đức Mẹ Truyền Tin, Bà thánh Lê Thị Thành, Bà thánh Tê-rê-sa, Thánh Tâm, Nghĩa binh, Hội khấn, Giới trẻ, Áo hồng , Con Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời, Tiến đức.

Tu xá Đaminh Bùi Chu: chuyên lo cứu tế cho người nghèo khổ, không nơi nương tựa, giúp người ốm đau.

Các công tŕnh tiêu biểu: Trung tâm mục vụ: do cha già Bỉnh đốc công xây dựng năm 1943, diện tích 320m2. Một dăy nhà phụ xây dựng năm 1995, rộng 150m2. Một văn pḥng làm việc của Hội đồng mục vụ và Cộng đoàn Ḷng Chúa Thương Xót xây dựng năm 2014.

Nhà giáo lư: 2 tầng với 10 pḥng học

Cơ sở từ thiện bác ái: Nhà quàn thai nhi xây dựng năm 2014

Các tượng đài cuối nhà thờ: Đài Thánh Giuse, Đài Cha thánh Tôma Đinh Viết Dụ, Đài Đức Mẹ La Vang, Đài Thánh Đaminh.

 

< Tham khảo - Nguồn : Trang Web SVCG Bùi Chu >

Giáo xứ Liễu Đề: Đón nhận Tin mừng năm 1631 (có 4 người được chịu phép rửa)

Năm 1632: thành lập giáo họ, bổn mạng đầu tiên là thánh Giuse- trực thuộc Nhà chung bái vàng.

Năm 1691: được nâng lên hàng giáo xứ với 27 giáo họ trực thuộc.

Năm 1900: được nâng lên hàng giáo hạt với 10 giáo xứ trực thuộc

Hiện nay giáo xứ gồm 13 giáo họ trực thuộc với 4350 giáo dân.

Riêng nhà xứ, số giáo dân là 2350 người. Quan thầy hiện nay là Đức Mẹ Mân Côi. Nhà thờ giáo xứ được cung hiến ngày 2-04-2002

Và đến nay, giáo xứ được giáo phận nâng lên đền thánh Kính Ḷng Thương Xót Chúa, ngày 20.04.2010. Chúng ta vui mừng đón nhận sắc phong.

2. Giáo họ Nhân Thọ: giáo họ Nhân Thọ nằm trên địa bàn thị trấn Liễu Đề, được thành lập năm 1885. nhà thờ xây năm 1899. quan thầy là thánh Vinh Sơn, số giáo dân hiện có 300 người.

3. Giáo họ An thọ: giáo họ An Thọ nằm trên địa bàn thị trấn Liễu Đề, huyện nghĩa hưng, tỉnh nam định. Thành lập năm 1914; Nhà thờ xây dựng năm 1918. Quan thầy là thánh Giuse thợ. Số giáo dân hiện nay là 520 người.

4. Giáo họ Phúc Thọ: giáo họ Phúc Thọ nằm trên địa bàn xă Trực Thuận-huyện Trực Ninh.Thành Lập năm 1890; nhà thờ xây năm 1892, nhận thánh Tô-ma Aquino làm bổn mạng. số giáo dân hiện có là 320 người.

5. Giáo họ Liêu Hải: Giáo họ Liêu Hải nằm trên địa bàn xă Nghĩa Trung, huyện Nghĩa Hưng. Thành lập năm 1902-nhà thờ xây dựng năm 1930. bổn mạng là Gioan Kim và Anna. Số nhân danh hiện có là 212.

6. Giáo họ Cống B́nh: Giáo họ Cống B́nh nằm trên địa bàn xă trực thuận, huyện Trực Ninh.Thành lập năm 1902-nhà thờ xây dựng năm 1910. quan thầy là thánh Gio-an tiền hô. Số nhân danh hiện có là 245.

7. Giáo họ Giáp Giáo: giáo họ giáp giáo nằm trên địa bàn thị trấn liễu đềm, huyện nghĩa hưng. Thành lập năm 1917, nhà thờ xây dựng năm 1931. nhận thánh An-tôn Padova làm quan thầy. Số nhân danh hiện có là 123 người.

8. Giáo họ Nhân Hậu: Giáo họ nhân hậu nằm trên địa bàn nghĩa thái, huyện Nghĩa Hưng. Thành lập năm 1888-nhà thờ xây dựng năm 1890, nhận Đức Mẹ Hồn Xác lên Trời làm bổn mạng. số nhân danh hiện có là 254.

9. Giáo họ Đại Tám: Nằm trên địa bàn thị trấn Liễu Đề, huyện nghĩa hưng, được thành lập năm 1915; nhà thờ bị đổ chưa được xây lại. Nhận Đức Mẹ Sầu Bi làm bổn mạng. số nhân danh hiện có 106.

10. Giáo họ Thượng Kỳ: giáo họ Thượng Kỳ nằm trên địa bàn xă Nghĩa Thái, huyện Nghĩa Hưng, được thành lập năm 1917-nhà thờ xây dựng năm 1920; quan thầy là Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tộ

11. Giáo họ Cát Điền: Giáo họ Cát Điền nằm trên địa bàn xă Nghĩa Trung, huyện Nghĩa Hưng, được thành lập năm 1915; nhà thờ được xây dựng năm 1934. quan thầy là thánh phanxico Xavie. Số giáo dân hiện có là 110 người.

12. Giáo họ Nam Phúc: Giáo họ Nam Phúc nằm trên địa bàn xă trực thuận, huyện Trực Ninh, thành lập năm 1938; nhà thờ được xây dựng năm 1938, nhận Thánh Gia làm quan thầy. Số nhân danh hiện có là 55 người.

13. Giáo họ Thụ Ích: giáo họ Thụ Ích nằm trên địa bàn xă Nghĩa Trung, huyện Nghĩa Hưng, thành lập năm 1914-nhà thờ xây năm 1916, bổn mạng là thánh Giuse. Số nhân danh có 10 người. (

14. Giáo họ Đông Thượng: Giáo họ Đông Thượng nằm trên địa bàn xă Trực Thuận, huyện Trực Ninh. Thành Lập năm 1916 nhà thờ xây dựng năm 1936. nhận thánh Phao-lô Tông Đồ trở lại làm quan thầy. số nhân danh hiện có là 15 người.

* Nguồn : Trang Web SVCG Bùi Chu

 


H́nh ảnh nhà thờ Giáo xứ Liễu Đề

* Nguồn : Trang Web SVCG Bùi Chu

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

[Trở về đầu trang ]