Tổng Giáo phận Hà Nội

Nhà thờ Giáo xứ Bút Đông (Trác Bút)

 

Nhà thờ Giáo xứ Bút Đông (Trác Bút)
Giáo hạt Lư Nhân

 

Địa chỉ : thôn Đông Nội, xă Châu Giang, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Namm  ( Bản đồ )

Chánh xứ : Linh mục Giuse Vũ Ngọc Ruẫn (16/12/2010)
Phó xứ     : Linh mục Vicent Phạm Văn Thắng (12/12/2016)

Tel

 

E-mail

http://butdong.blogspot.ca/

Năm thành lập

 

Bổn Mạng

 

Số giáo dân

3100

Giờ lễ

Chúa nhật     : 

Ngày thường : 

Các nhà thờ lân cận :   Gh Bút Chợ - Gh Bút Kênh - Gh Bút Quai - Gh Bút Thượng - Gh Duệ Cát  -  Gh Ḥa Trần  -  Gh Lệ Thủy  - Gh Vạn Lương

Tư liệu :  Lược sử Giáo xứ - H́nh ảnh Giáo xứ 
                Video Giới thiệu Gx Bút Đông
                Video Thánh lễ Cung hiến nhà thờ Bút Đông

-  Tin tức sinh hoạt

* Giáo Xứ Bút Đông Ngày Chầu Lượt (8/5/2016) - H́nh ảnh
* Giáo xứ Bút Đông chầu Thánh Thể thay mặt giáo phận (10/5/2015)
* Giáo xứ Bút Đông rước kiệu và dâng hoa tôn kính Đức Mẹ (1/5/2015) -
* H́nh ảnh Thánh lễ ban bí tích Thêm Sức tại Giáo xứ Bút Đông (16/8/2014)
* Giáo xứ Bút Đông hân hoan mừng đón cha tân chính xứ Giuse Vũ Ngọc Ruẫn  (16/12/2010)

 

Lược sử Giáo xứ Bút Đông (Trác Bút)

Nguồn: Theo tài liệu Hội đồng Bút Đông Miền Nam

LỜI NÓI ĐẦU

Tiểu sử xứ đạo Bút Đông có cách đây chưa được 200 năm. Nếu so sánh với các di sản văn hóa cổ ở nước ta, nhiều nơi đă có cách đây một vài ngàn năm lịch sử, chẳng hạn nền văn hóa cổ đại Ai Cập của loài người cách đây 5000 năm th́ chả đáng là bao. Nhưng nếu tính thời gian cuộc sống của môt đời người th́ cũng đă lâu lắm rồi.

Từ hồi xa xưa, người công giáo xứ ta rất đáng tự hào là người Việt Nam kính Chúa yêu nước, nhân ái đoàn kết, siêng năng, sáng tạo trong lao động sản xuất. Đă tạo dựng lên những công tŕnh văn hóa tín ngưỡng có giá trị như: Ngôi nhà thờ cổ xây dụng kiểu Á - Đông khánh thành năm 1883. Đến năm 1920 lại khánh thành tiếp một nhà thờ nguy nga rộng lớn, với hai tháp cao vút, thiết kế theo kiểu Gô - Tích. Trong không gian có đường nội bộ chạy bao quanh, mặt trước tiền sảnh có sân thượng và sân hạ. Hai bên tả hữu là hai dăy nhà, một bên dùng làm trường học, c̣n bên kia dùng làm nhà chứa đồ dùng. Hiện nay cổng phía Tây lại mới xây một hang đá nhân tạo, kết cấu bằng những phiến đă rửa và thạch nham, có chiều dài 100m cao 09m và dày 06m. Về không gian, các Cụ tính toán hoàn hảo về phong thủy, có mặt hồ trước tượng trưng cho nội Minh Đường, có con đường chạy thẳng nối từ trung tâm bờ hồ phía nam đi về thôn Phúc Thành. Sự t́nh toán đó là tượng trung cho liên kết vây rồng trong thế Phục Long.

Có Đền Thánh Giuse với năm tháp tṛn, mộ phỏng theo một ngôi đền ở Ṭa Thánh La Mă. Có một Nhà nguyện Đức Mẹ ở xóm Năm Duyên – Giang. Một Nhà nguyện Thánh An – Tôn ở thôn Phúc Thành. Có nhà Ḍng mến Thánh Giá được tạo dựng từ những năm đầu sơ khai ra nhà xứ Bút Đông.

Xứ Bút Đông có 09 họ đạo trực thuộc, luôn gắn liền mọi hoạt động tôn giáo chính xứ từ xưa tới nay.

Trải qua các cuộc chiến tranh ác liệt, xứ đạo cũng thăng trầm theo thời cuộc, v́ thế các văn bằng, di chỉ của các cụ xưa để lại nay đă bị mai một. Đáp ứng nguyện vọng của các cụ bô lăo trong làng, cũng như một số giáo dân đang sống xa quê hương như Hà Nội, Sài G̣n, các vị sống xa tổ quốc, mong muốn t́m lại những chứng tích của cội nguồn. Để cho các đời sau không được quên lăng những thành quả sáng tạo của cha ông. Bài viết sơ lược tiểu sử này, kịp thời giải đáp được phần nào cho quư ông, bà và các bạn đọc.

Tuy nhiên:

Bản này ai mở đầu, đầu bút trước
Bấm đốt tay đă được là bao
Rộng xem cao xét thế nào
Đă không bằng cớ mong sao thật truyền
Cảo thơm trải mấy phen nhuận sắc
Thoạt xem vào chán ngắt trí khôn
Bởi v́ sai lạc phân phồn
Tam sao thất bản chỉ c̣n đôi ba.

Thật vậy:

Toàn bộ nội dung trong sơ lược tiểu sử này, là do chúng tôi sưu tầm được, qua các lời kể của các cụ bô lăo trong làng cung cấp. Có một tài liệu viết tay của người xưa để lại do ông Cường con cụ cố Tín (em Đức Giám mục Nguyễn Tùng Cương) giao cho, nhưng đă quá cũ nát, mối xông gần hết lại không có đầu đuôi, nên không thể nào tránh được những thiếu sót.

Theo phong trào chung của đất nước. Nhiều làng, xă đă lập những di chỉ văn hóa của quê hương ḿnh. Nhất là thể hiện trên các hương ước của các làng xă đạt tiêu chuẩn LÀNG VĂN HÓA. Cho nên bài viết sơ lược này, chúng tôi thấy là rất cần thiết và bổ ích.

Nay hội trần gian khai hóa
Quyết ra tay tinh tỏa nguyên lai
Dám đây cậy trí khoe tài
Nối nôi không ư đặt bài rêu rao
Này gương sáng nêu cao chói lọi
Thử mở phanh cho mọi người soi
Ai ơi! muốn ích hăy coi
Đời tuy lâu, cách tiếng đời truyền xa.

Để có cái đẹp thật sự của gốc trường tồn trong cội nguồn của quê hương được trung thực và chính xác. Các cụ bô lăo trong làng, các cụ đang sống xa quê hương như: Hà Nội - Sài G̣n, đă cố gợi nhớ trong trầm tích mà lâu nay luôn khát vọng được phát lộ. Trong trầm tích tự dốt cháy trong ḿnh bằng những nguyên liệu được kết tinh từ quá khứ để xuyên suốt trong hiện tại.

Để được công nhận những trầm tích mà các cụ đă phát lộ qua những địa tầng của quá khứ thành minh chứng. Bài viết này đă ghi nhận lại, mong  được coi như đứa con tinh thần được sinh ra, để dâng hiến như người con đối với nơi chôn rau cắt rốn của ḿnh.

Nếu nói quê hương ta là nơi địa linh nhân kiệt th́ chưa được. Nhưng cũng rất đáng tự hào, trên mảnh đất quê hương b́nh dị này đă sinh ra được:

Hai linh mục tử v́ đạo: (chưa được phong thánh)

-       TRỊNH VĂN QUY (1857)
-       TRẦN VĂN THƯ (1861)

Hai thánh tử v́ đạo có liên quan đến xứ ta:

-       Linh mục Luca VŨ BÁ LOAN
-       Linh mục Theophane Venard (Thánh Ven)

Một Hồng Y:

-       Giuse - Maria TRỊNH VĂN CĂN

Ba Giám Mục:

-       Giuse - Maria NGUYỄN TÙNG CƯƠNG
-       Giuse TRỊNH CHÍNH TRỰC
-       Giuse NGUYỄN TÍCH ĐỨC

Hai linh mục Giáo sư:

-       Giuse TRINH HƯNG KỶ
-       Phêrô CAO TIẾN ĐẠT

49 vị bao gồm:

-   Hồng Y

-   Giám mục và linh mục

Bảy ḍng họ có người làm linh mục

Ba gia đ́nh có hai anh em làm linh mục

Từ ngày thành lập giáo xứ tới nay. Xứ đạo Bút Đông luôn có các nhiệm kỳ đảm trách điều hành giáo xứ. Đứng đầu là ông Chánh Trương ban hành giáo này, thay quyền Hội đồng Giáo xứ điều hành các công việc của nhà thờ.

Từ năm 1937, quê ta đă có ba bị giáo sư. Về xă hội đă có người trong giáo dân có chức vị cao nhất chính quyền địa phương, lănh đạo một thời phà phát triển ngành nông nghiệp, đưa quê hương có những đóng góp vào thành tích chung, đạt tới xă anh hùng trong mặt trận kinh tế.

Thời gian và bạn đọc, là những giám khảo nghiêm khắc và công minh nhất. V́ vậy, rất mong được sự đóng góp bổ sung những chứng tích của quê hương, nhất là tiểu sử của một số nhà thờ họ cũng như tên thánh của một số vị linh mục mà chúng tôi chưa làm được.

Rất mong được sự góp ư bổ sung kịp thời để lần tái bản sau chúng ta có được tập sách chính xác, hoàn hảo, phong phú hơn.

Xin cảm ơn.

PHẦN I : ĐỊA LƯ HÀNH CHÍNH XỨ BÚT ĐÔNG

Thánh đường hai tháp xứ Bút Đông xây dựng tại: Thôn Đông Nội, xă Châu Giang “Xưa kia là xă Trác Bút” huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam. Xă Trác Bút xưa là mảnh đất trên bờ sông Thiên Mạc có h́nh chiếc bút xung thiên “Thiên mạc gian hề Trác Bút trang” là câu đầu của bốn câu thơ ca ngợi mảnh đất quê hương trù phú có gần 2000 năm lịch sử.

Thiên mạc giang hề Trác Bút trang
Cung đ́nh thiên cổ thị huy hoàng
Quần thần thị lập giai oanh liệt
Thủy liễu Dương Dương tại điển hàn.

Xă Trác Bút nằm sát con đường trên bản đồ tỉnh lộ 9710 bên tả ngạn con sông Châu Giang.

Tọa độ trên bản đồ quốc gia

105°20  đến 188°00 kinh đông
20°20 đến 22° 7´75 vĩ độ bắc

THÔN ĐÔNG NỘI

Thôn Đông nội là một bộ phần nằm giữa trung tâm của Trác Bút trang.

Phía đông giáp: Vân Kênh
Phía tây giáp thôn: Trung Thượng
Phía bắc giáp thôn: Đông ngoại
Phía nam giáp thôn: Phúc Thành

Theo tài liệu hương ước của làng mới thành lập th́ hiện nay:

Diện tích hành chính: 90ha
Diện tích canh tác: 70ha

Có 258 hộ dân với 1041 nhân khẩu gần 10 ḍng họ.

 

PHẦN II : XỨ BÚT ĐÔNG RA ĐỜI

Cách đây gần 03 thế kỷ, đạo Thiên Chúa đến vùng phố Hiên Kinh Kỳ thuộc tỉnh Hưng Yên, bên cạnh con sông Hồng Hà. Từ đó xuất hiện địa danh Bút Đông. Khởi đầu tạo dựng họ đạo là nhà nguyện bằng tre nứa lá ở khu vực xóm Ḥa B́nh, tức Đồng Cồng xưa. Nằm trên lô đất ông hương Thác và ông Toan Đỗ ngày nay. Lúc đó là họ đạo trực thuộc xứ Bái Vàng.

Sau khi họ Bút Đông xây dựng được nhà thờ gỗ làm theo kiểu Á - Đông khánh thành năm 1883. Thời gian đó, cha cố Huy làm Giám quản, ngài xin bề trên để họ Bút Đông được thành lập Xứ Bút Đông cho đến ngày nay.

Tương truyền:

Xứ Bút Đông nằm trong thế rồng của khu vực:

 1. Mắt rồng ở Phúc Thành
 2. Tim Rồng là nhà thờ xứ Bút Đông
 3. Dạ Rồng ở Đ́nh Đông
 4. Đuôi Rồng là sông Thiên Mạc

Xứ Bút Đông có 09 họ giáo trực thuộc:

 1- Họ Bút Chợ
 2- Họ Bút Thượng
 3- Họ Bút Kênh
 4- Họ Bút Quai
 5- Họ Trại Trần
 6- Họ Duệ Cát
 7- Họ Lạt Hà
 8- Họ Vạn Lương
 9- Họ Lệ Thủy

 + Có Đền Ông Thánh Giuse
 + Có nhà Ḍng Mến Thánh Giá
 + Có nhà Nguyện Đức Mẹ ở xóm  Duyên Giang
 + Có Đền Ông Thánh An - Tôn ở thôn Phúc Thành

Đền Ông Thánh Giuse

 

Đền Thánh Antôn

Đền Thánh Antôn

 

Nhà Nguyện Đức Mẹ ở xóm Duyên Giang

 

PHẦN III : TRUYỀN TÍCH XÂY DỰNG NHÀ THỜ HAI THÁP VÀ CÁC NHÀ THỜ HỌ TRỰC THUỘC NHÀ THỜ HAI THÁP

Ngày 4/3/2000, cụ bà Nguyễn Thị Vường sinh năm 1904 ở xóm Năm Duyên Giang kể: Nhà thờ khởi công vào năm 1914. Cha Hoằng mới chuyển về làm phó xứ được một năm (1913). Ban hành giáo lúc đó, đứng đầu là cụ Chánh Điểm và cụ Trùm Tuyển.

Việc khởi công bắt đầu là việc đổi đất của bốn gia đ́nh để quy hoạch khuôn viên nhà thờ: Cụ Kính, cụ Lư Liên, cụ Xức, cụ Khoa Quân, chuyển bốn thửa đất đổi cho các cụ ra phía sau nhà thờ. Hiện nay là nhà cụ Mậu Quân, cụ Căn Kỳ, cụ Inh Sách. Ao hồ nhà xứ hiện nay trước đây là ao, cừ, đầm lầy, cỏ năn, lác mọc um tùm hoang hóa. Bờ hồ phía đông là cái ngă đi vào xóm nhỏ, trâu ḅ đi lại thành đường bậc thang lầy lội bẩn thỉu. Móng nhà thờ đào sâu khoảng 2m50, cọc từ móng, các cụ dùng bằng tre, bương, luồng. Vồ đóng cọc, các cụ thiết kế bằng loại gỗ nặng, dùng ṛng rọc kéo lên thả xuống. Riêng phần móng để xây hai tháp cao, có tải trọng lớn, nên ngoài việc đóng cọc bằng tre bương, luồng. Các cụ c̣n trải bè bằng các phiến gỗ lim ngang, dọc liên hoàn lên toàn bộ khu móng hai tháp. Đá để xây móng và nung vôi, các cụ mua ở Kiện Khê, thuê  thuyền chở về băi Hống, rồi chia cho nhân danh (nhân khẩu bây giờ) của cả dân làng, tính theo phu phen vận chuyển về.

VẬT LIỆU GẠCH VÔI ĐỂ XÂY DỰNG

L̉ GẠCH SỐ 1:

Nung đốt ở đầu làng dọc Kênh phía đông vườn Thánh địa của nhà xứ

Mẫu gạch có 3 h́nh:

H́nh tṛn có đường kính 30cm có lỗ giữa
H́nh bán nguyệt (tám cạnh) đường kính 30cm
H́nh chữ nhật có các chiều dài: 30 cm, rộng 15cm, dày 5cm.
 

L̉ GẠCH SỐ 2:

Ḷ gạch này mở sau, dùng cho xây dựng bổ sung như xây tường bao quanh, sân vườn, một dăy trường học, một dăy nhà để đồ dùng hai bên tả, hữu, tiền sảnh nhà thờ. Địa điểm nung, đốt tại chỗ ở của ông Chiểu Thiều thôn Phúc Thành bây giờ, v́ khu đất này trước kia là ruộng của nhà xứ.

L̉ NUNG VÔI:

Nhà xứ tổ chức đốt hai ḷ vôi trong khuôn viên khoảng 400m2. Khi ra vôi cũng tổ chức, tôi vôi ngay cạnh khu đất của nhà xứ, phía đông trước mặt nhà thờ, đầu nhà anh Mỹ (con ông Ngôn) đang ở bây giờ.

NGUYÊN LIỆU ĐỐ GẠCH VÔI:

Vào thời gian đó c̣n khan hiếm than đá, các cụ phải bổ sung nhiệt bằng cách đun chủ yếu bằng bổi (bổi có nghĩa là các loại như: rơm rạ, củi gỗ, cây ngô,…)

Nhà xứ lúc đó có 20 mẫu ruộng chuyên canh trồng lúa gồm hai nơi: phía đông cửa nhà thờ, tức bên phía đền ông thánh Giuse có 08 mẫu, phía tây cửa nhà thờ có 12 mẫu.

Vào thời vụ cày cấy, cũng như đến mùa thua hoạch gặt lúa. Cha xứ thông báo tại nhà thờ trước vài ngày. Hôm đi làm có một hồi chuông, th́ cả làng nối lại và cả một số người bên lương thuộc thôn Đông Ngoại từ già, trẻ giá trai nô nức ra đồng, mỗi người một việc. Từ việc cày cấy, nhổ mạ hay đến việc mùa gặt lúa, thường chỉ một ngày là xong. Riêng phần gốc rạ th́ để lại, làng sẽ gọi phu, chia cho từng gia đ́nh theo phần lượt đi cắt rạ rồi chuyền về các ḷ gạch, ḷ vôi.

Tổ chức chính quyền đại phương vào thời điểm xây dựng nhà thờ là điều hành theo hàng giáp. Giáo dân thuộc nhà xứ có năm giáp ở hai thôn Phúc Thành và Đông Nội. Toàn bộ rơm rạ và cây ngô của giáo dân thuộc trong 05 Giáp này. Trong 07 năm làm nhà thờ, đều để nhà xứ quản lư dùng vào việc nung đốt gạch vôi. Trung b́nh mỗi ngày có một phần ba số gia đ́nh trong 05 Giáp, phải ra đồng làm việc họ nhà xứ. Như cắt rạ, vận chuyển rạ và cây ngô về để đốt gạch vôi cho nhà xứ. Theo tiêu chuẩn nhân danh gia đ́nh ḿnh. Nếu gia đ́nh nào mà thiếu, không có người đi làm là ông Giáp trưởng được quyền phạt theo h́nh thức cảnh cáo trước dân, nếu thiếu nhiều, có thái độ trây lỳ, c̣n phải bị đánh đ̣n.

GIÁP TRƯỞNG:

Giáp trưởng là những thanh niên được làng tín nhiệm cho ra làm việc làng. Các thanh niên này phải có sức khỏe tốt, có đạo hạnh và uy tín. Nhưng v́ hoàn cảnh khó khăn nghèo túng, chưa mua được các chức vị hương, xă… Thời bấy giờ c̣n quen gọi là anh giai.

Bên trên các giáp trưởng các cụ có chức vị như Kỳ Mục, Hương Trưởng của từng giáp, các cụ có chức vị trong 05 Giáp phải thường xuyên gặp nhau bàn bạc việc làng và đôn đốc phu phen của Giáp ḿnh để hoàn thành việc nhà xứ.

CHA HOẰNG TRÊN ĐỒNG RUỘNG

Cha Hoằng là người có công lớn trong việc xây cất nhà thờ Hai Tháp xứ Bút Đông. Cha sinh năm 1875, quê ở công xá Lư Nhân Hà Nam, thụ phong linh mục năm 1911 ở Kẻ Sở.

Ngài coi sóc xứ Sở Hạ được một năm. Đến năm 1913 th́ Bề Trên chuyển về làm phó xứ Bút Đông. Cha qua đời năm 1929, phục vụ giáo xứ Bút Đông được 17 năm hưởng dương 54 tuổi.

Cha có dáng người tầm thước, da ngăm đen, có sức khỏe, chịu thương chịu khó, ban ngày thường xuyên có mặt ngoài đồng ruộng, để an ủi, thúc giục và hướng dẫn con chiên cắt rạ và thu gom cây ngô. Gặp các cháu c̣n nhỏ tuổi đi làm thay phu người lớn. Cha thường bó rạ, xóc gánh đặt lên vai cho các cháu. Cụ Nguyễn Thị Vường bây giờ đă gần 100 tuổi, lúc đó cũng là một trong các cháu nhỏ xưa kia được Cha thương đỡ.

Khi Cha ra đồng ruộng, Cha thường cưỡi con ngựa màu xích thố, khi làm việc là thả ngựa tung tăng trên cánh đồng đang đông vui sản xuất. Tạo thành không gian ấm cúng t́nh cha con. Khắc sâu vào trí nhớ của mọi người giáo dân quê ta.

THỜI GIAN XÂY DỰNG NHÀ THỜ

Thời gian xây dựng nhà thờ là 07 năm. Từ đầu năm 1914 đến năm 1920. Nhờ ơn bề trên thương cách riêng. Quê hương vào thời gian này được mùa liên tiếp bảy năm liền. Thóc lúa, ngô khoai bội thu, đồng ruộng khô ráo. V́ vậy việc xây dựng nhà thờ bớt được rất nhiều khó khăn, tạo nhiệu thuận lợi cho việc thi công nhanh chóng.

NHÀ D̉NG XỨ BÚT ĐÔNG

Nhà ḍng xứ Bút Đông có từ năm 1859. Vào thời kỳ đó, xứ ta vẫn c̣n là một họ đạo trực thuộc xứ Bái Vàng. Nhà ḍng xây được 06 gian nhà nguyện, có 16 nữ tu, bà Kính và bà Hiền làm chị cả và chưa có tên gọi là Ḍng Mến Thánh Giá. Thời gian khai lập nhà ḍng cũng là thời gian đạo công giáo đạng bị ông vua phong kiến (Tự Đức) bách hại đạo. Trong thời gian này nhà ḍng đă có:

NHÀ NGUYÊN THÁNH AN - TÔN

Nhà nguyện ông thánh An - Tôn nằm về phía nam nhà thờ xứ thuộc thôn Phúc Thành trực thuộc xứ Bút Đông nay gọi là Bút Đông 3.

Ngày 17/3/2000 cụ Trịnh Văn Thục sinh năm 1919 và cụ Trịnh Văn Thuận sinh năm 1920, hai cụ đều ở Thôn Phúc Thành kể về tiểu sử ngôi nhà nguyện thánh An - Tôn như sau:

Khu đất xây dựng nhà nguyện Thánh An - Tôn trước đây là khu đất hoang bỏ trống do thôn Phúc Thành quản lư. Các cụ ở thôn xóm này thấy các người ăn mày, ăn xin các nơi tối đến tụ tập về đây đông quá, tối đến không có chỗ trọ ngủ qua đêm, với tấm ḷng kính Chúa yêu người, các cụ trong thôn cùng nhau góp tre tranh lợp, tạo dựng lên ba gian nhà tranh nữa lá, để giúp họ có chỗ ngủ qua đêm.

Đến năm 1947 nạn đói đă bớt dần, các người ăn mày không quay về ngủ trọ tại đây nữa, các cụ Kư Khánh, cụ giáo Xương, cụ trùm Hữu, xin phép cha xứ, lúc đó là cha già Đức đang cai quản xứ, để xây dựng nhà nguyện và cử cụ Minh làm thư kư sổ sách, các cụ nhận Thánh An - Tôn làm quan quan thầy.

Các bộ xă thuộc chính quyền Việt nam Dân chủ Cộng ḥa lúc đó là ông Trần Văn Tạ người thôn Đông nội cũng theo đạo Thiên Chúa giáo, nên ông đồng ư cấp giấy phép xây dựng nhà nguyện Thánh An - Tôn.

Kinh phí xây dựng do cụ Trùm Là và cụ Quản Hùng cung cấp phần lớn, c̣n thiếu bao nhiêu các cụ tổ chức đi vận động làng xứ. Rất nhiều người ủng hộ, người góp công, kẻ giúp tiền nên việc thi công gặp nhiều thuận lợi. Trong hai năm đă hoàn thành mọi công việc, khánh thành năm 1949.

Vật liệu như gỗ, gạch ngói, mua của cụ Tín lúc đó cụ ở bên tỉnh Hưng Yên, hiện nay cụ gần 100 tuổi c̣n sống đang ở số nhà 72 Nguyễn Thiếp, cạnh chợ Đồng Xuân - Hà Nội, cụ theo đạo Phật Giáo. Nhưng cụ có ḷng hảo tâm ủng hộ nhà thờ một số tiền, khi thanh toán tiền vật liệu c̣n thiếu là cụ ủng hộ ngay. Bản thiết kế nhà nguyện do cụ Lăng dâng hiến, cụ Lăng quê ở vùng biển, nhưng làm rể xứ Bút Đông.

Kế thừa những tấm ḷng cao cả và công lao tạo dựng của các cụ để lại. Ngày nay, được sự quan tâm tích cực của giáo dân nơi đây đứng đầu là ban kiến thiết và chính quyền thôn Phúc Thành, đă đứng ra quyên góp nhân dân để kiến thiết xây dựng cảnh quan, ngoại thất, sân vườn khá đẹp. Xây dựng được nhà tiếp khách, kiên cố rộng trên 20m2. San lấp được ao cừ mặt trước nhà thờ. Do ông Thuận và bà Văn Bổng dâng tiến, để kiến thiết thành sân vườn, cây cảnh, tượng thánh…

Một số các ông, bà đang sống xa quê hương như: Hà Nội cũng tiến dâng đèn chum, đèn cây, ở miền Nam một số anh chị em tưởng nhớ tới quê hương, cũng đă đang vận động quyên góp kinh phí để sửa chữa những chổ trong nội thất nhà nguyện, đang có nguy cơ hư hỏng nặng, giúp cho nhà nguyện ông Thánh Antôn được bền vững và khang trang hơn.

NHÀ THỜ HỌ DUỆ CÁT

Nhà thờ họ Duệ Cát nằm ở đỉnh điểm phía nam nhà thờ xứ Bút Đông thuộc thôn Phúc Thành.

Ngày 22/3/2000 cụ bà Nguyễn Thị Điểu, sinh năm 1915, trú quán họ Duệ Cát thôn Phúc Thành kể về tiểu sử nhà thờ họ Duệ Cát.

Nhà thờ họ Duệ Cát xây dựng năm 1906 trực thuộc xứ Bút Đông nhận ông Thánh Giuse là quan thầy, khu đất của xă Ḥa Mạc quản lư. Xă Ḥa Mạc trước cũng có nhà thờ, gần nhà thờ Trại Trần bây giờ, nhưng đă bị mai một.

Nhà thờ trước đây nằm trong địa danh của xă Ḥa Mạc nên thường gọi nhà thờ này là nhà thờ xóm I. Các vị có chức sắc trong họ giáo trước đây, tính từ năm 1906 cụ trùm đầu tiên là cụ Chánh Chàng, kế vị có cụ Hội Cẩm là quản giáo, ông xă Thức làm từ. Hiện nay ông Ngôn và ông Sơn đang điều hành họ giáo.

Lúc đầu xây dựng nhà thờ gồm năm gian mái lợp cỏ tranh, ván gỗ lùa xung quanh. Được một thời gian ván bị mục nát, giáo dân trong học phải sửa chữa lại bằng vách trát vôi rơm. Đến năm 1949 các cụ lại xin cha xứ là cha Già Đức. Cha xứ bề trên được một số ngói và gỗ về sửa lại tạm không được chắc chắn lắm.

Vào khoảng năm 1963 khung gỗ nhà thờ đa số chổ bị mục mọt nên bị xiêu vẹo có nguy cơ bị đổ. Toàn bộ giáo dân nơi đây đă cùng nhau đóng góp tiền của, công sức để xây lại nhà thờ khang trang như hiện nay. Vật liệu như ngói mua của ông Đô ở Kim Bảng, chuông nhà thờ là cha Già Tư ban cho. Cha xin bề trên từ ở Toàn Thánh La Mă cùng với chuông ở nhà thờ họ Kênh.

NHÀ NGUYỆN ĐỨC MẸ XÓM NĂM DUYÊN GIANG

Nhà nguyện Đức Mẹ xóm năm Duyên Giang nằm sát bên bờ tả ngạn con sông Châu Giang, cách nhà thờ xứ khoảng 2.5km về phía tây nam, nhận Đức Mẹ Mân Côi làm quan thầy, trực thuộc xứ ngày nay gọi là Bút Đông 4.

Ngày 18 và 19 tháng 3 năm 2000. Cụ Nguyễn Thị Vường sinh nam 1904 ở xóm năm Duyên Giang và cụ Trinh Văn Thuận kể sự tích nhà nguyện Đức Mẹ như sau:

Khu đất để xây dụng nhà nguyện Đức Mẹ Mân Côi hiện nay là cha Già Tư mua cho họ phường chai để xây cát nhà nguyện đọc kinh sớm tối. Những người phường chài đă cư ngụ nơi đây một thời gian khá lâu, tạo dựng lên được bốn gian nhà để tạp trung đọc kinh sang tối. Tại đây đă có cụ già, trẻ nhỏ đương thời từ bỏ cơi trần về nơi an nghỉ. Họ lập được một thánh địa nhỏ gần khu vực nhà thờ.

Đến năm 1922, thời gian này mưa to gió lớn, làm lụt lội đói kém khắp nơi, một số người phường chai không sinh sống trên ḍng sông Châu Giang được nữa, họ di chuyển về Vạn Lương lập nghiệp, xây dựng thành họ Vạn Lương ngày nay.

Đến năm 1945 nạn đói lại kéo dài. Số người phường chai c̣n lại không ở đây nữa họ chuyển về làng Văn Phát sinh sống và xây dụng nhà thờ thành họ Văn Phái ngày nay, và trao trả lại mảnh đát nhà nguyện Đức Mẹ cho cha xứ là cha Già Đức quản lư.

Vào thời điểm này, một số người ở thôn Đông Nội và Phúc Thành đến quanh khu vực nhà nguyện để mở mang trang trại lập nghiệp sinh sống. Các cụ xin cha xứ cho xây dựng lại hà nguyện v́ đă đổ nát, làm nơi đọc kinh cầu nguyện sớm tối. Đến năm 1948 nhà nguyện bị bom của thức dân Pháp tàn phá, nhà nguyện Đức Mẹ bị phá hủy hoàn toàn. Một lần nữa nơi đây lại thành băi đất trống. Đến năm 1950, một số các cụ trong xóm, đứng đầu là cụ cố Hoạt (cố Đức Giám Mục Trịnh Chính Trực), cụ Bổn, cụ Hỏa, cụ Côn, xin cha xứ xây lại nhà nguyện, cha xứ đă dồng ư cho phép xây dựng, cha c̣n xin bề trên giúp đỡ được một số gỗ, xin ngói ở nhà Tràng Hoàng Nguyên. Các cụ lấy kiểu mẫu nhà thờ xứ Yên Mỹ để thi công xứ này cũng giúp đỡ rất nhiều cho các cụ xóm năm này. Khi gần hoàn thành, c̣n dở dang một số công việc th́ hết kinh phí, khả năng, dân xóm cạn kiệt, các cụ đă nghĩ ra được một số kế sách, để có tiền hoàn thành nhà nguyện bằng cách, bán “Bộ Hậu”. Bộ Hậu là công việc về hậu sự. Mỗi người phụ nữ ở xóm năm mua một suất hậu sự.

Loại I = 15 đồng, loại II = 12 đồng, ghi vào sổ học, khi nào các cụ qua đời th́ thôn xóm phải xin lễ và đọc kinh cầu nguyện, thường là một lễ theo chân hoặc là một lễ mồ.

Theo bước cha ông xưa, ngày nay với sự nỗ lực của các cụ trong ban kiến thiết, được sự đồng t́nh ủng hộ của giáo xứ, chính quyền đại phương. Giáo dân nwoi đây dă tập trung đóng góp tiền của, công sức xây dựng hoàn thành được nhà nguyện Đức Mẹ mới, tuy c̣n nhỏ nhưng khá khang trang, ngoại thất sahcj đẹp, có nhà tiếp khách để làm việc nhất là vào dịp lễ bổn mạng. Đây cũng là niềm rất tự hào và ghi nhận ở cửa ngơ phía tây nam của xứ ta, góp phần vào thành tích chung của quê hương ta vốn sống tốt đời đẹp đạo.

NHÀ THỜ HỌ BÚT CHỢ

Nhà thờ họ Bút Chợ nằm ở phía tây bắc chính xứ Bút Đông trong khuôn viên mảnh đất rộng 6000m2. Khu đát này là do dân xóm gồm hai chị họ: họ Phạm và họ Trần về đây lập nghiệp, để dành riêng xây dụng nhà thờ họ,lấy tên là họ Bút Chợ.

Ngày 30/3/2000 cụ Trần Văn Khánh sinh năm 1929, trú quán xóm Bút Chợ, cụ kể theo di chỉ của các cụ tổ kể lại về việc xây dựng nhà thờ họ Bút Chợ như sau:

Nhà thờ họ Bút Chợ có từ năm 1910, lúc đó là năm gian nhà gỗ, mái lợp tranh lá, nằm theo hương nhà thờ xây hiện nay nhưng lui về phía sau. Nhà thờ lúc đó đă có cây Thánh Giá bằng đá cao 2m60, bề rộng than Thánh Giáo là 0.20m x 0.22m được đặt trên bệ xây phía trước nhà thờ, giáo dân lúc đó có 150 người tối sớm đọc kinh nguyện ngắm sốt sáng. Nhà thờ bằng gỗ này chỉ trụ vững được một thời gian ít lâu rồi bị sập đổ do bị mối mọt. Khu đất này bị bỏ không một thời gian, giáo dân bơ vơ phải đi đến các họ khác để đọc kinh và rước lễ.

Đến năm 1926 các cụ đứng ra xin phép cha xứ để xây dựng lại nhà thờ, đứng đầu là cụ Giáo Bách, cụ B́nh Lụa, cụ Trùm Thảo, cụ trùm Thọ. Các cụ huy động mọi giáo dân trong họ phải đóng góp tre, luồng để đóng móng nhà thờ, rơm rạ để đốt nung gạch, ḷ gạch được bố trí nung địa điểm xóm Cây Đa, vôi mua ở Kiện Khê chở thuyền về đến tận xóm rất  tiện lợi. Kinh phí do giáo dân đóng góp, số c̣n thiêu các cụ xin phép Cha xứ cử người đi quyên góp trong toàn giáo xứ. Cụ Bách thời gian đang dạy học ở nhà tràng Hoàng Nguyên, cụ thân quen với cụ Đốc Khanh rất giỏi về thiết kế. V́ vậy kiểu mẫu nhà thờ do cụ Đốc Khanh giúp đỡ. Công tŕnh xây dựng nhà thờ gặp rất nhiều khó khăn, nhất là thiếu hụt về kinh phí, v́ vậy công tŕnh xây dựng kéo dài 07 năm. Đến năm 1933 mới được hoàn thành. Chuông nhà thờ cao 0.70m đường kính 0.60m có niên hiệu đúc 1921 do cha xứ ban tặng, nhưng vào thời gian nào không ai c̣n nhớ.

Nhà thờ họ Bút Chợ nay về ngoại thất đang bị sút kém, giáo dâng không c̣n đông đúc như xưa. Ban kiến thiết và các cụ bô lăo đang có kế hoạch vận động kinh phí để sửa sang lại sạch đẹp. Chúng ta cầu xin Thiên Chúa ban ơn cách riêng để các vị sớm đạt được tâm nguyện tốt lành trên.


PHẦN IV : CÁC CHA TRỤ TR̀ XỨ BÚT ĐÔNG

1.  Cha cố HUY: cha trụ tŕ xứ Bái Vàng, làm giám quan xứ Bú Đông từ năm 1902 đến năm 1911.

2.  Cha già PHÊRÔ TƯ: trụ tŕ chính xứ Bút Đông từ năm 1906 đến năm 1938 cha qua đời tại Bút Đông.

3.  Cha NGUYỄN TẤT TIÊN: trụ tŕ xứ Bút Đông từ năm 1909 đến năm 1913 ngày chuyển đi làm phó xứ 04 năm.

4.  Cha già TRANG: người về hưu ở xứ Bút Đông từ năm 1912 đến năm 1915 cha qua đời tại Bút Đông.

5.  Cha HOẰNG: trụ tŕ phó xứ Bút Đông thời gian xây dựng nhà thờ Hai Tháp từ năm 1913 đến năm 1929 cha qua đời phục vụ giáo xứ được 17 năm.

6.  Cha già CHU: trụ tŕ xứ Bút Đông 1920 đến năm 1922 cha qua đời.

7.  Cha già PHÁC:  trụ tŕ phó xứ Bút Đông từ năm 1922 đến năm 1925 cha qua đời tại Bút Đông phục vụ giáo xứ được 03 năm.

8.  Cha ĐẠI: trụ tŕ phó xứ Bút Đông từ năm 1930 đến năm 1936, người chuyển về xứ Mạc Thuognwj phục vụ giáo xứ được 06 năm.

9.  Cha PHÊRÔ GIÀ ĐỨC: trụ tŕ phó xứ Bút Đông từ năm 1929 đến năm 1938 cha Già Tự qua đời. Người lên làm chính xứ đến ngày 15-3-1965 cha qua đời phục vụ giáo xứ được 27 năm.

10.  Cha GIUSE  VŨ NGỌC RỰ: trụ tŕ phó xứ Bút Đông từ năm 1939 đến năm 1944 cha qua đời tại Bút Đông phục vụ giáo xứ được 05 năm.

11.  Cha HÁN: trụ tŕ phó xứ Bút Đông từ năm 1944 đến năm 1952 cha chuyển đi, phục vụ giáo xứ được 08 năm.

12.  Cha MỸ: trụ tŕ phó xứ Bút Đông từ năm 1952 đến năm 1953 cha chuyển đi.

13.  Cha NGUYỄN NGỌC CHÂU: trụ tŕ chính xứ Bút Đông từ ngày 1/5/1999 cho đến nay.

 

KHOẢNG KHẮC DÀI XỨ BÚT ĐÔNG KHÔNG CÓ LINH MỤC 

Từ ngày 15/3/1965 cha già Phêrô Đức qua đời cho tới ngày 1/5/1999 cha Nguyễn Châu chính thức về coi sóc giáo xứ. Đây là nột thời gian dài 34 năm xứ ta không có linh mục. Giáo dân quê ta vẫn giữ đạo siêng năng sốt sáng, tối sớm đọc kinh cầu nguyện, xin Thiên Chúa ban ơn lành xuống cho dân làng, và nhờ cậy các cha ở các xứ đạo khác chỉ dạy và rước lễ, cũng như xin ơn các phép Bí Tích khác.

Các cha ở những xứ khác là:

1.  Cha già KHOÁT: ở xứ Động Linh -  Đồng Văn từ năm 1966 đến năm 1985 cha qua đời.
2.  Cha già CHỈNH: thuộc xứ Hoàng Nguyên Phú Xuyên Hà Tây từ năm 1985 đến năm 1986.
3.  Cha TÁM: thuộc xứ Hoàng Nguyên Phú Xuyên Hà Tây từ năm 1987 đến ngày 1/5/1999 cha Nguyễn Ngọc Châu về chính xứ Bút Đông.

 

PHẦN V : THỜI KỲ CÁC GIÁM MỤC VỀ KINH LƯỢC XỨ BÚT ĐÔNG CÁC CỤ CÓ CHỨC SẮC ĐANG LÀM VIỆC NHÀ XỨ 

1.  Ngày 3/4/1906: Đức Giám Mục Phêrô Maria Đông về nhà ḍng.

Các vị có chức sắc trong ban mục vụ giáo xứ (ông Trùm):

-    -     Ông Quyển
-     Bà Hậu Am (bà Cố Khảm)
-     Bà Hương Vệ
-     Ông Lang Hai

2.  Ngày 31-11-1909: Đức Giám Mục Phêrô Maria Đông về lần thứ II

Các vị có chức sắc chia theo hàng giáp.

Giáp I:

-    Ông Bô Quyền
 Bà Hương Vệ

Giáp II:

-    Ông Thỉnh

Giáp III:

-     Ông Quư
 Bà Kính (bà trùm dạy giáo lư)

Giáp IV:

-     Ông Đội Quyền
 Ông Bồng

3.  Ngày 3/8/1991: Đức Giám Mục Kính về kinh lược xứ

Các vị có chức sắc:

Giáp I:

-     Ông Hương Tuyển (dạy giáo lư)
 Ông Lư Ư
 Bà chánh Tŕ

Giáp II:

-     Ông Hương Thú (bác cha Kính)

4.  Ngày 10/6/1918: Đức Giám Mục Cố Hoàng về thăm Bút Đông.

Các vị có chức sắc:

-     Ông Phi Phông
 Bà Nghiêm
 Ông Lư Nhu
 Bà An Cẩm

5.  Ngày 26/4/1924: Đức Giám Mục Phêrô Maria Đông về lần III.

Các vị có chức sắc:

-     Bà Anna B́nh
 Ông Giuse Chiểu

6.  Ngày 6/1/1927: Đức Giám Mục Phêrô Maria Đông về lần IV.

7.  Ngày 8/9/1929: Đức Đức Giám Mục Phêrô Maria Đông về lần V.

Các vị có chức sắc:

-     Ông Sang Nhác
 Ông quản Tuyển
 Bà lang Trung
 Bà cố Đê
 Bà cố Am
 Bà Lư Binh

8.  Ngày 29/9/1933: Đức Giám Mục Giuse Changvee kinh lược xứ.

Các vị có chức sắc:

-     Bà cố Am
 Bà Thử Xuân
 Ông Thứ

9.  Ngày 14/10/1939: Đức Giám Mục Phanxicô Thịnh về lần thứ I.

Các vị có chức sắc:

-     Ông Phung

-     Ông quản Châu

-     Bà Anna Oanh

-     Bà Matta Xương

10.  Ngày 4/5/1945: Đức Giám Mục Phanxicô Thịnh về lần thứ II

11.  Ngày 2/6/1951: Đức Giám Mục Giuse Maria Trịnh Như Khuê về kinh lược lần thứ I.

Các vị có chức sắc:

-         Ông Thác

-         Bà Hiền

12.  Ngày 5/12/1956: Đức Giám Mục Giuse Maria Trịnh Như Khuê về kinh lược lần thứ II.

Các vị có chức sắc:

-         Ông Thác

-         Bà Hiền

13.  Ngày 6/12/1959: Linh mục Chỉnh về thăm xứ

Các vị có chức sắc:

-         Ông Hoạt (cố Đức cha Trực)

-         Ông Thiên

14.  Ngày 18/5/2000: Đức Hồng Y Phaolô Giuse Phạm Đ́nh Tụng về kinh lược lần thứ I

15.  Ngày 10/8/2000: Đức Hồng Y Phaolô Giuse Phạm Đ́nh Tụng về kinh lược lần thứ II

16.  Ngày 6/8/2002: Đức Hồng Y Phaolô Giuse Phạm Đ́nh Tụng về kinh lược lần thứ III

Các vị có chức sắc:

-     Ông Thép (làm Chánh trương)

-     Ông Phùng

-     Ông Phỗng

-     Ông Bùi Ngọc Đua

-     Ông Minh

Đức Hồng Y Phaolô Giuse Phạm Đ́nh Tụng Tổng Giáo Phận Hà Nội. Người sinh ngày 20/5/1919, tại thôn Cầu Mễ, xă Yên Thắng, huyện yên Mổ, tỉnh Ninh B́nh. Năm 10 tuổi tức năm 1929, được linh mục Phạm Bá Trực hướng dẫn đi tu, chịu chức linh mục ngày 6/6/1949, chiu chức Giám Mục 15/8/1963 cai quản địa phận Bắc Ninh.

1.  Ngày 4/7/1990 kiêm nhiệm Giám Quản Tông Ṭa Hà Nội

2.  Ngày 23/4/1994 là Tổng Giám Mục địa phận Hà Nội

3.  Ngày 14/8/1994 nhận được Tước hiệu Hồng Y

4.  Ngày 8/6/1999 làm lễ kỉ niệm mừng Kim Khanh linh mục 50 năm thượng thọ bát tuần.

Năm 2003, Người vừa tṛn 84 tuổi, đă qua tuổi tham gia Mật tuyển viện, v́ vậy. Ngày 26/4/2003 Đức Thánh Cha Gioan Phalô II đă bổ nhiệm Đức Giám Mục Ngô Quang Kiệt 51 tuổi, Giám Mục giáo phận Lạng Sơn và Cao Bằng làm Giám Quản Tông Toàn tổng giáo phận Hà Nội.

Thông báo ngày 28/4/2003 của Đức Giám Mục Phêrô Nguyễn Soạn tổng thư kư Hội Đồng Giám Mục Việt Nam viết Đức cha Chủ Tịch Hội Đồng Giám Mục Việt Nam vừa nhận được điện văn của Đức Hồng Y CRESCENZIO SEPE, Tổng Trưởng Thánh Bộ Truyền Bá Phúc Âm cho hay, Đức Thánh Cha đă bổ nhiệm Đức Giám Mục Giuse Ngô Quang Kiệt làm Giám Quản Tông Ṭa toàn quyền tổng giáo phận Hà Nội.

Tin này được công bố vào ngày 26/4/2003.

 

PHẦN VI : CÁC TU SĨ CÔNG GIÁO QUÊ HƯƠNG XỨ ĐẠO BÚT ĐÔNG

(Sinh ra được các vị Linh mục và Giám mục)

1.  Linh mục Trinh Văn Quy tử v́ đạo năm 1857 (chưa được phong thánh)
2.  Linh mục: Trần Văn Thư tử v́ đạo năm 1861 (chưa được phong thánh)
3.  Linh mục: Trịnh Văn Quế
4.  Linh mục: Trịnh Văn Tốn
5.  Linh mục: Phêrô Phạm Văn Tuyên
6.  Linh mục: Phaolô Trịnh Văn Tuất
7.  Linh mục: Phêrô Trịnh Văn Diện
8.  Linh mục: Phêrô Trịnh Văn Ngũ (Linh mục Trịnh Văn Diện và Linh Mục Trịnh Văn Ngũ là hai anh em)

9.  Linh mục: Trịnh Văn Khảm
10.  Linh mục: Nguyễn Văn Kỷ
11.  Linh mục: Phêrô Nguyễn Văn Toàn
12.  Linh mục: Nguyễn Văn Chiến
13.  Linh mục: Phạm Văn Thiệp
14.  Linh mục: Lê Văn Khâm
15.  Linh mục: Phạm Văn Thân
16.  Linh mục: Đỗ Văn Kiên
17.  Linh mục: Giuse Trịnh Văn Am
18.  Linh mục: Nguyễn Hữu Đề
19.  Linh mục: Nguyễn Văn Dậu
20.  Linh mục: Nguyễn Văn Cường
21.  Linh mục: Nguyễn Văn Tú
22.  Linh mục: Nguyễn Văn Đoài (Lm. Nguyễn Văn Tú và lm. Nguyễn Văn Đoài là hai anh em con cụ cố Bằng và Maria Liễu
)
23.  Linh mục: Phaolô Đỗ Văn Hanh
24.  Linh mục: Giuse Đỗ Văn Tích (Linh mục Đỗ Văn Hanh và Đỗ Văn Tích là hai anh em con cụ cố Hải)
25.  Linh mục: Nguyễn Duy Thông
26.  Linh mục: Nguyễn Văn Tín
27.  Linh mục: Trịnh Văn Hán
28.  Linh mục: Trịnh Văn Lư
29.  Linh mục: Trịnh Văn Hinh
30.  Linh mục: Antôn Lê Hoàng Yến (con cụ cố Sủng)
31.  Giám mục Giuse - Maria Nguyễn Tùng Cương (con cụ cố Tín), sinh ngày 2/11/1917 coi sóc địa phận Hải Pḥng.
32.  Giám Mục Giuse Trịnh Chính Trực (con cụ cố Hoạt), coi sóc địa phận Ban Mê Thuột
33.  Đức Hồng Y: Giuse- Maria Trịnh Văn Căn (con cụ cố Điền), Tổng giáo phận Hà Nội.
34.  Linh Mục Giáo sư Giuse Trịnh Hưng Kỷ (con cụ cố Trịnh Văn Kỷ)
35.  Linh Mục Antôn Phạm Văn Trọng (tức Tảo)
36.  Linh Mục Phaolô Nguyễn Hải Bằng (tức Tô)
37.  Linh Mục Giuse Nguyễn Trí Minh (con cụ cố Giáo Lục)
38.  Linh Mục Anphongsô Nguyễn Văn Luận (con cụ cố Luân)
39.  Linh Mục Giuse Trần Văn Nghị (con cụ cố Ch́)
40.  Linh Mục Giáo sư Phêrô Cao tiến Đạt (con cụ cố Phát)
41.  Giám Mục Giuse Nguyễn Tích Đức (con cụ cố Uyển), coi sóc địa phận Ban Mê Thuột
42.  Linh Mục Giuse Lê Đức Sinh (vừa qua đời năm 2003 tại Ṭa Tổng Hà Nội)
43.  Linh Mục Lê Văn Uyên
44.  Linh Mục Lê Văn Mai
45.  Linh Mục Giuse Nguyễn Ư Định (phong chức ngày 22/9/1994 con cụ cố Đoàn)
46.  Linh Mục Luca Vũ Công Liêm (phong chức ngày 21/10/1995 con cụ cố Tần)
47.  Linh Mục Vũ Văn Thiềng
48.  Linh Mục Nguyễn Duy Hùng (con ông cố Hán đang ở nước ngoài)
49.  Linh Mục Phạm Ngọc Dũng (đang ở nước ngoài)
50.  Linh mục
Nguyễn Mạnh Đạt (SDB), phong ngày 31/5/2014 (con ông cố Giuse Nguyễn Văn Lịch, người Nam Định) và (bà cố Caterina di Siena Nguyễn Thị Tập, người Bút Đông).

51....Số linh mục chính thức trên đă được xác minh, c̣n vào khoảng 20 mươi linh mục tản mạn khắp nơi hải ngoại. Hội đồng hương Bút Đông thiếu thông tin chưa thể liệt kê được, sẽ được cập nhật trong thời gian gần nhất.
52....Số linh mục chính thức trên đă được xác minh, c̣n vào khoảng 20 mươi linh mục tản mạn khắp nơi hải ngoại. Hội đồng hương Bút Đông thiếu thông tin chưa thể liệt kê được, sẽ được cập nhật trong thời gian gần nhất.

Hiện nay quê hương ta c̣n có:

1.  Thầy Hưng con ông Long ở thôn Đông Nội đă được phong chức Phó tế, đang chờ Chúa gọi trao phó công việc chủ chăn của Người.
2.  Thầy Dũng con ông Giang ở thôn Vân Kênh đang học năm thứ II Đại chủng viện Thánh Giuse Hà Nội.

 

Đại diện Hội Đồng Hương Bút Đông
Phó Hội trưởng Đồng Hương
Phụ trách truyền thông

Phạm thủy Hồ
SĐT: 0907517549

................................

Một tài liệu khác về lịch sử Gx Bút Động

Giáo xứ Bút Đông nằm trên địa bàn xă Châu Giang, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam là một giáo xứ lớn với hơn 3100 tín hữu, hiện nay quyền coi sóc của cha Giuse Trần B́nh Trọng. Theo lịch sử của Giáo phận Hà Nội, Giáo xứ Bút Đông đă từng là nơi che dấu các vị tử đạo trong thời kỳ bách hại và đă đóng góp cho trang sử hào hùng của Giáo hội Việt Nam một người con ưu tú, đó là cha thánh Luca Vũ Bá Loan.

Cha Luca Vũ Bá Loan sinh năm 1756 ở họ Bút Quai, thuộc xứ Bút Đông (Trác Bút), xă Châu Giang, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam, thuộc Tổng Giáo Phận Hà Nội. Từ thiếu niên, ngài đă ước nguyện dâng ḿnh cho Chúa. Trải qua thời gian dài tu luyện ở Phú Đa và Kẻ Bèo, thày Loan được thụ phong linh mục. Bề trên đă có bài sai cha Loan đến phục vụ tại xứ Nam Xang sáu tháng. Sau đó cha Loan được cử về giúp cha già Liêm xứ Kẻ Vồi. Năm 1828, khi Đức cha Longer Gia chia xứ Kẻ Vồi làm hai, cha Loan được cử về làm cha xứ Kẻ Sổ (xứ Phú Mỹ) cho đến ngày bị bắt. Trong nhiệm vụ linh mục, những người biết cha đều học được nơi cha một mẫu gương sáng ngời về các nhân đức. Đặc biệt là ḷng yêu mến Chúa, nhiệt tâm phục vụ các linh hồn và nếp sống đơn giản thanh bạch. Ngài bị bắt ngày 10/01/1840 tại họ Kẻ Chuôn và sau một thời gian chịu cảnh tù đầy ngài đă hưởng triều thiên vinh hiển trên thiên quốc ngày 05/06/1840 tại pháp trường ở Hà nội. Ngay sau khi cha bị trảm quyết, giáo dân Kẻ Chuôn đă thi thể cha về chôn cất tại họ đạo của ḿnh. Đức Giáo Hoàng Lêô XIII suy tôn cha Luca Vũ Bá Loan lên bậc Chân Phước ngày 27/5/1900. Và ngày 19/6/1988, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II suy tôn ngài lên bậc Hiển Thánh.

Nhờ lời cầu bầu của vị thánh Tử đạo, giáo xứ Bút Đông tiếp tục truyền thống giữ đạo và đă trổ sinh nhiều hoa trái trên cánh đồng truyền giáo của Giáo hội Việt Nam. Trong những người con tiếp bước truyền thống cha ông của Giáo xứ hôm nay, chúng ta phải kể đến Đức Hồng y Giuse Maria Trịnh Văn Căn, Đức Giám mục Nguyễn Tùng Cương (Hải Pḥng), Đức Giám mục Giuse Trịnh Chính Trực, Đức Giám mục Nguyễn Tích Đức (Ban Mê Thuật) và hàng trăm linh mục phục vụ đă và đang phục vụ Giáo hội Công giáo Việt Nam trong mọi miền đất nước.

Tinh thần kính Chúa yêu người đă thấm sâu vào ḷng mỗi người kitô hữu trong giáo xứ . Ngôi nhà thờ hai tháp với tuổi thọ gần một trăm năm đă được tu bổ để các tín hữu đến cầu nguyện và dâng lễ. Ngôi nhà thờ xây dựng năm 1922, với hai tháp chuông rất đẹp luôn là biểu tượng của một niềm tin kiên trung của tất cả những người con của giáo xứ.

 


H́nh ảnh nhà thờ Giáo xứ Bút Đông (Trác Bút)

 

 

 

 

 

             

 

Credit of Nam Tran

 

H́nh ảnh bổ sung xin gởi về
giaoxugiaohovietnam@Yahoo.com 

[Trở về đầu trang ]