Tổng Giáo phận Hà Nội

Nhà thờ Giáo xứ  Công Xá

 

Nhà thờ Giáo xứ Công Xá
Giáo hạt Lư Nhân

 

Địa chỉ : Đồng Lư, Lư Nhân, Hà Nam   ( Bản đồ )

Chánh xứ : Linh mục Giuse Phạm Minh Triệu (12/12/2016)
Phó xứ     : Linh mục Giuse Tạ Ngọc Nghiệp (12/12/2016)

Tel

 

E-mail

FB

Năm thành lập

 

Bổn Mạng

Gioan Baotixita

Số giáo dân

3354

Giờ lễ

Chúa nhật     :   6:30  -  18:30

Ngày thường :  18:30

Giờ lễ có thể thay đổi theo mùa hay mục vụ của Gx. Xin xác nhận trước  khi đi lễ

Các nhà thờ lân cận :  Gh Nhà xứ, Gh Hội Đồng, Gh Mai Xá.  Gh

Tư liệu :  Lược sử Giáo xứ - H́nh ảnh Giáo xứ 
                Video Đời sống người Công Giáo Gx Công Xá
                Videos sinh hoạt nhà thờ Gx Công Xá

-  Tin tức sinh hoạt

* Video Đón cha phó Giu-se TẠ NGỌC NGHIỆP về Giáo xứ Công Xá (14/12/2016)

* Giáo xứ Công Xá đón Thánh Giá Giới trẻ Giáo tỉnh Hà Nội lần thứ XIII (25/8/2015)

* Giáo xứ Công Xá chầu Thánh Thể thay mặt Giáo phận (26/8/2012)

 

Lược sử Giáo xứ Công Xá

Dẫn nhập

Người dân Việt Nam từ ngàn xưa đă có truyền thống sống bám lấy mảnh đất cha ông để lại dù là đất cằn, nhọc nhằn và gian khổ. Sách Quốc văn Giáo khoa thư dạy cũng dạy từ thưở vỡ ḷng bài học: chốn quê hương là đẹp hơn cả. Dù tâm hồn trải rộng mọi nơi, xứ sở nào cũng có bước chân từng đặt đến th́ trong ḷng mỗi người vẫn thiết tha nhớ về một thôn xóm đơn sơ, từng nuôi dưỡng chúng ta suốt phần tuổi trẻ…Tất cả, gói trọn trong hai chữ QUÊ HƯƠNG.

Hai chữ Quê Hương chứa đựng những ư nghĩa rất to lớn. T́m về cội nguồn của quê hương không chỉ là nhớ lại những dấu tích đă qua, mà c̣n suy gẫm những sự kiện, t́m ra cái căn nguyên những công việc con người đă làm qua từng giai đoạn, từng thời ḱ. Nhờ đó làm thành cái gương chung cho hậu duệ soi vào mà biết và hiểu những bậc tiền nhân đă dày công thế nào để xây dựng, giữ ǵn, bảo tồn và phát huy những giá trị vật chất cũng như tinh thần. “Ôn cố tri tân” là vậy

Tổng Công Xá, phủ Lư Nhân, trấn Sơn Nam có thể được biết đến từ thời Lê sơ. Là một vùng đất thuộc huyện Lư Nhân ngày nay, một vùng đất với nhiều truyền thống lịch sử và văn hóa như Trống đồng Ngọc Lũ, bộ sách đồng quí giá …Tổng Công Xá c̣n biết đến với những điệu ca, câu ḥ của vùng đồng bằng sông Hồng.

Ngược ḍng thời gian, mảnh đất này đă có nhiều người đóng góp công sức gây dựng non sông. Những tên tuổi của những danh nhân, tướng tài c̣n được lưu trên bia đá nhiều nơi.

Hôm nay - nhắc đến Công Xá - người ta biết đến đây là một xứ Đạo Công giáo toàn ṭng, có họ Trần duy nhất, với gần ba ngàn giáo dân. Xứ Công Xá vẫn c̣n tự hào là xứ mẹ, là nơi đón nhận đức tin đầu tiên của huyện Nam Xang và là mảnh đất với bề dày truyền thống văn hóa, truyền thống đức tin… Người dân vẫn c̣n câu ca: “Thứ nhất Bút Đông, thứ nh́ Công Xá”.

Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, kỹ thuật và tiếp xúc với những nền văn minh mới. Việc t́m lại giá trị, căn cốt của con người ḿnh là việc cần thiết và quan trọng để tự tin đi vào xă hội hiện đại song vẫn có những bản sắc riêng, những căn tính và truyền thống quí giá mà cha ông để lại. Nhờ đó, niềm tin vững bước đi vào cuộc sống và cuộc sống là cơ hội trải nghiệm của niềm tin. Đây cũng là nét chính yếu trong quá tŕnh hội nhập văn hóa.

Ḍng thời gian trôi, mọi người lớn lên lao vào cuộc sống: thênh thang nhung lụa hay bế tắc nghẹn ngào, ở nơi quê nhà hay viễn du ngàn phương th́ dĩ văng tuổi trẻ bao giờ cũng day dứt gợi nhớ, bởi đó là chuỗi ngày hồn nhiên và trong sáng nhất. V́ vậy, t́m về cội nguồn của mảnh đất nơi ḿnh sống như là khơi lại một ḍng nước trong lành mà ḍng chảy đă bị lăng quên hay vùi lấp. Giữa những cơn khát ngày nay, trở về với tiên tổ của ḿnh như được t́m thấy nguồn nước trong lành và qua đó nhiều người được no thỏa, an vui.

Với ước vọng đó, những con dân Công Xá muốn t́m lại cội nguồn của cha ông ḿnh để thấy được công lao chọn đất, lập thôn, cũng như gia sản đức tin Công giáo quí giá và phong tục, truyền thống tốt đẹp.

Nhờ sự khích lệ, hướng dẫn của quí cha, quí vị cao niên và những người trẻ, cộng với tấm ḷng khâm phục các bậc tiền nhân. Chúng con mạnh dạn ghi lại những ḍng lược sử về xứ đạo Công Xá như một lời tri ân đấng bậc tổ tiên.

Chúng con đă cố t́m hết những phần liên quan trong sử liệu ghi lại, những sách tham khảo, những lời truyền khẩu của các cụ cao niên. Tuy nhiên, nhiều phần và nội dung không thể tránh khỏi những hạn chế. Do vậy, xin quí vị bổ xung và góp ư cho tập lược sử thêm phong phú, hoàn chỉnh.

QUÁ TR̀NH H̀NH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN

1. Sơ lược về mảnh đất

Năm 1831 - 1832, thời vua Minh Mạng, thành lập các tỉnh Hà Nội, Hưng Yên, Nam Định, Ninh B́nh trên cơ sở các trấn Nam Định, Sơn Nam Thượng cũ và thành Thăng Long cũ. Lúc này trấn Nam Định được đổi thành ra tỉnh Nam Định (Ngày nay bao gồm cả hai tỉnh Nam Định và Thái B́nh, trừ huyện Hưng Hà Thái B́nh và phần phía Tây huyện Đông Hưng Thái B́nh ngày nay thuộc tỉnh Hưng Yên lúc đó) Đến năm 1890, thời vua Thành Thái, trên đất Sơn Nam xưa và Thăng Long cũ, thành lập thêm các tỉnh: Hà Nam (phủ Lư Nhân), Thái B́nh (tách từ Nam Định và có nhập thêm một phần, ở phía Nam sông Luộc), Cầu Đơ (sau đổi là Hà Đông bao gồm cả: Thường Tín và Ứng Ḥa của trấn Sơn Nam xưa).

Năm 1965, chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng ḥa đă quyết định nhập hai tỉnh Nam Định và Hà Nam thành tỉnh Nam Hà. Đến năm 1975, tỉnh Nam Hà lại nhập với tỉnh Ninh B́nh thành tỉnh Hà Nam Ninh, tỉnh này tồn tại tới năm năm 1991 th́ lại được tách thành: Nam Hà và Ninh B́nh, năm 1996 chia tỉnh Nam Hà thành hai và từ đây có đủ 3 tỉnh riêng rẽ: Hà Nam, Nam Định và Ninh B́nh như hiện nay.

Như vậy, tỉnh Hà Nam ngày nay chính là phủ Lư Nhân ngày xưa, thành lập từ đất Sơn Nam năm 1890. Phủ Lư Nhân là thủ phủ của 5 huyện: Nam Xang, Kim Bảng, Duy Tiên, Thanh Liêm và B́nh Lục.

2. Vùng đất huyện Nam Xang (Lư Nhân ngày nay)

Năm 1831, vua Minh Mạng quyết định bỏ đơn vị trấn thành lập đơn vị hành chính tỉnh, Phủ Lư Nhân được đổi tên thành Phủ Lư thuộc tỉnh Hà Nam, là thủ phủ của 5 huyện: Nam Xang, B́nh Lục, Thanh Liêm, Duy Tiên, Kim Bảng.

Lư Nhân là một huyện thuộc tỉnh Hà Nam. Lư Nhân nằm ở phía Đông tỉnh Hà Nam, trên hữu ngạn sông Hồng. Phía Bắc giáp với huyện Duy Tiên, phía Tây có sông Châu giang làm đường phân ranh với huyện B́nh Lục, c̣n phía Đông, đối diện với tỉnh Thái B́nh bên tả ngạn sông Hồng dọc suốt chiều dài của huyện. Hiện chưa có tài liệu chính thức nào nói về việc đổi tên từ huyện Nam Xang thành huyện Lư Nhân (?).

Lư Nhân là nơi giàu truyền thống lịch sử về văn hóa và văn minh. Chính tại nơi đây đă phát hiện được trống đồng cổ, c̣n nguyên vẹn và có nhiều giá trị nghệ thuật nhất, thuộc văn hóa Đông Sơn - đó là trống đồng Ngọc Lũ. Được phát hiện ở xă Như Trác năm 1893-1894, và cũng là nơi phát hiện cuốn sách đồng cổ nhất Việt Nam, hiện nay nó vẫn đang được lưu giữ ở thôn Văn An xă Bắc Lư.

3. Tên gọi về Tổng Công Xá

Tổng là đơn vị hành chính địa phương trung gian giữa huyện và xă ở Việt Nam trước năm 1945.

Theo các bi kí c̣n tồn tại, tổng có thể có từ thời Lê sơ (1428 – 1527). Các văn bia lập thời Mạc (1527-1592) nhắc đến cấp tổng nhiều hơn. Tuy nhiên, vào thời Lê, thời Mạc, thời Lê-Trịnh, tổng không phải là một đơn vị hành chính chính thức giống như đạo, lộ, châu, phủ, huyện, xă. Nó là sự liên kết giữa một vài xă cận kề có chung những đặc trưng về văn hóa, tín ngưỡng, địa lư để cùng làm thủy lợi, bảo tŕ và cúng tế tại một ngôi đ́nh chung (đ́nh Tổng), hoặc chùa chung (chùa Tổng), chống trộm cướp.

Đầu thế kỷ XIX, khi tổng đă phổ biến trên cả nước, th́ nó mới được chuyển thành một đơn vị hành chính chính thức. Mỗi tổng bao gồm khoảng 10 xă, thôn. Đứng đầu chính quyền tổng là cai tổng do tri phủ hoặc tri huyện mà tổng trực thuộc chọn ra. Nhiệm vụ của chính quyền tổng chỉ là đôn đốc thu thuế, giữ ǵn an ninh. Muốn thực hiện được các nhiệm vụ này, chính quyền tổng không dùng các cơ quan của ḿnh mà lại dựa vào chính quyền xă. (Chú thích: Đinh Khắc Thân (2005), Về đơn vị hành chính “Tổng” ở Việt Nam, Nghiên cứu Lịch sử, số 1 (344), trang 16-20, Viện Sử học, Hà Nội, tháng 1)

Trên bia Văn miếu – Văn bia đề danh tiến sĩ khoa thi năm Tân Sửu niên hiệu Thiệu Trị năm thứ nhất (1841): VŨ VĂN LƯ 武文理 , Cử nhân, người xă Vĩnh Trụ, tổng Công Xá huyện, Nam Xang, phủ Lư Nhân, tỉnh Hà Nội, sinh năm Kỷ Tị, thi đỗ năm 33 tuổi.

Gia phả họ Từ - Từ Vĩnh Đạo là người Trung Quốc, Tỉnh Phúc Kiến, Phủ Ṛng Châu, Huyện Đồng An, Đô Ṭng Ṭng, Thuận Lư, xă Ô Lê. Khi sang Việt Nam cụ mua ruộng đất ở xă Dũng Kim, xă Thái Đường, tổng Công Xá, huyện Nam Xang, phủ Lư Nhân, tỉnh Hà Nam, ở đây các cụ phát triển nghề trồng mía, kéo mật gây nên căn bản cơ đồ sự nghiệp. (Chú thích: Gia phả họ Từ - Hưng Hà)

Phạm Tất Đắc (1909) là một nhà thơ Việt Nam. Ông quê làng Kim Dũng, tổng Công Xá, phủ Lư Nhân, tỉnh Hà Nam. Tác giả tập thơ: “Chiêu hồn nước”.

Như vậy tổng Công Xá là phần đất gồm xă Đồng Lư, thị trấn Vĩnh Trụ, xă Đức Lư, xă Bắc Lư và một số xă, thôn khác…? Về địa lư, phía Tây tổng Công Xá nằm ven theo sông Châu giang làm đường phân ranh với huyện B́nh Lục. Các phía c̣n lại là đất liền với các xă, thôn khác.

Là một nhánh của Sông Hồng, khi thủy lợi chưa phát triển, ḍng chảy lớn th́ sông Châu giang là phần rất quan trọng để làm nên huyết mạch giao thông đường bộ nối với huyện Duy Tiên (Chùa Đọi – Lễ hội Tịch điền), huyện B́nh Lục và xuôi xuống tỉnh Nam Định. Nó không những cung cấp nguồn nước ngọt để sinh hoạt, chăn nuôi và trồng trọt mà c̣n mang theo lượng phù sa phong phú tạo nên những băi bồi màu mỡ rất thuận lợi cho việc trồng lúa, trồng mía kéo mật, trồng dâu nuôi tằm trên dải đất ven sông Châu mầu mỡ này. Khi mùa nước lũ, nhiều vùng đất thuộc tổng Công Xá có thể bao phủ bởi nước. V́ thế mà tạo nên những băi bồi như băi ngô Vĩnh Trụ, băi ngô Công Xá, cánh đồng Băi Cát…, đê bối (trục đường tỉnh lộ ngày nay)…Vực Công Xá, vực Hội Động hiện nay có thể là dấu tích của quá tŕnh ngập lụt lâu ngày, nước lớn xoáy tạo nên những chỗ rất sâu (rốn vực, “khởm”) (?)

Với giao thông đường thủy phát triển, là nơi đầu ngơ tiếp giáp với huyện B́nh Lục, huyện Duy Tiên, là trung gian giữa các vùng tỉnh Nam Định với Hưng Yên (phố Hiến). Chắc chắn tổng Công Xá là nơi phát triển mạnh về kinh tế, văn hóa cũng như là điểm trọng yếu của huyện Nam Xang. V́ thế mà tổng Công Xá luôn tiếp thu những điều mới của nhiều nền văn minh, cũng như chịu những biến đổi đầu tiên khi có loạn lạc.

* Vậy tên Công Xá mang ư nghĩa ǵ?

Theo từ điển tiếng Việt: Công Xá là tiền công trả cho người làm x̣ng phẳng. Điều này rất có thể v́ khi mảnh đất này là trung tâm của huyện Nam Xang, buôn bán tấp nập, kinh tế phát triển…th́ nhu cầu tuyển dụng người lao động là lẽ đương nhiên, và khi thuê người làm th́ phải trả tiền công (công xá). Nhận thấy người dân nơi đây không bóc lột sức lao động, trả tiền công minh bạch, nâng đỡ họ nhiều mặt… Là vùng đất địa linh nhân kiệt, sông nước hữu t́nh nên con người sống hiền ḥa, cảm thương đồng loại. V́ thế những người làm công truyền tụng nhau rằng: đây là mảnh đất dễ làm ăn, con người hiếu ḥa, công cán minh bạch. Công Xá cũng nói lên sự hưng thịnh, sầm uất, nhộn nhịp của một vùng đất trong huyện Nam Xang. Có lẽ, từ đấy người ta gọi con người nơi đây: người Công Xá, đất Công Xá biểu thị sự yêu mến, tôn trọng. V́ sau người ta chọn tên tổng Công Xá là đại diện cho nhóm các xă, thôn xung quanh và là trung tâm của huyện Nam Xang. (?)

Theo Hán Việt: Công: chung, Xá: vái - Công xá: một cộng đồng qui phục điều ǵ đó (?).

Năm1753, huyện Nam Xương có 81 xă, có 4183 giáo dân, do linh mục Dius Lư quản nhiệm (Chú thích: Lịch sử Địa phân Hà Nội, Hồng Nhuệ Nguyễn Khắc Xuyên, trang 118), chỉ có Phú Đa (Kẻ Sào) có 187 giáo dân thuộc các cha ḍng Tên. Huyện Nam Xang có 81 xă, có một xứ duy nhất là xứ Nam Xang (xứ Công Xá ngày nay). Có thể v́ mảnh đất này đón nhận đạo Kitô đầu tiên và một cộng đồng đông đảo cùng đón nhận niềm tin Kitô. V́ lẽ đó người ta gọi mảnh đất này là Công Xá. Vậy xứ đạo Công Xá có thể được hiểu: Một cộng đoàn đông đảo những người sẵn sàng qui phục, có niềm tin vào Thiên Chúa. Đúng như lời Thánh kinh (Is 62, 2) đă chép:

“Rồi muôn dân sẽ được chiêm ngưỡng đức công chính của ngươi*
mọi đế vương sẽ được ngắm nh́n vinh quang ngươi tỏ rạng
người ta sẽ gọi ngươi bằng tên mới, chính là tên miệng Chúa đặt cho.”

Với sử liệu năm 1753 ghi lại về xứ Nam Xang, chứng tỏ cộng đoàn giáo dân lúc bấy giờ đông đảo, Kitô giáo đă ḥa nhập vào tâm hồn, đời sống, văn hóa con người nơi đây. Thủ phủ xứ Nam Xang (Công Xá ngày nay) được biết đến với xứ Đạo toàn ṭng. Nằm trên địa bàn thôn Công Xá, xă Đồng Lư, huyện Lư Nhân, tỉnh Hà Nam.

* Thuyết về ḍng họ Trần, xứ Công Xá

Họ Trần bắt nguồn từ họ Quy, một họ Trung Quốc cổ, hậu duệ của vua Thuấn, một trong Tam Hoàng Ngũ Đế, sang Việt Nam năm 1110 thời vua Lư Nhân Tông (1072-1127). Vốn sống bằng nghề đánh cá, họ Trần thường sinh sống làm ăn ở những vùng cửa sông ven biển.

Cuộc khai quật tại Tức Mặc (là mảnh đất dấy nghiệp của vương triều nhà Trần ) ở Nam Định cho biết: nơi đây từng được coi là “kinh đô thứ hai” của nhà Trần từ năm 1239. Như vậy, Sau khi họ Trần sang Việt Nam được hơn 100 năm, nó đă phát triển mạnh về khu vực Nam Định, Hà Nam, Thái B́nh, Hưng Yên. (Chú thích: Các ḍng họ nước Đại Việt năm 1211)

Hiện nay thôn Công Xá cùng mang một họ duy nhất là họ Trần. Về ḍn g họ Trần xứ Công Xá, hiện nay không có tài liệu chính thức nào ghi lại. Những sự kiện c̣n lại chỉ qua truyền khẩu. Tuy nhiên, vấn đề đang t́m hiểu và có nhiều giả thuyết khác nhau.

• Nằm cạnh sông châu Giang, trung gian giữa Hưng Yên và Nam Định. Với nghề đánh cá. Có thể những ngư dân họ Trần đi qua đất Công Xá từ khoảng thế kỷ XIII. Thấy vùng đất Công Xá ven sông Châu giang dễ sinh sống nên ở lại định cư. Thời nhà Trần hưng thịnh, vua quan nhà Trần nhiều lần kinh lư bằng đường thủy đi qua nơi đây, hay xuống Nam Định. Ngư dân nơi đây phát triển và lập thành ḍng họ Trần. Họ Trần Công Xá tồn tại, phát triển qua các triều đại (tuy có nhiều thời gian phải ly tán) và tồn tại đến ngày nay.

• Với một cộng đoàn lớn theo Đạo Công giáo tại Công Xá, vào thời kỳ cấm đạo (vua Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức) với việc: cấm giáo sĩ giảng đạo, đánh đập bắt dân chúng bỏ Chúa, khước từ niềm tin vào Thiên Chúa, phân sáp các làng Công giáo, đốt nhà thờ… Làng Công Xá bị phân tán khắp nơi. Hết thời cấm đạo, một số trở về thấy xóm làng bị phá phách tan tành, ngôi nhà thờ bị thiêu rụi dưới ngọn lửa… V́ thế, khi tái thiết xóm làng, mọi người cùng nhau dùng chung một họ, đó là họ Trần - để tưởng nhớ đến biến cố đau thương của các bậc tiền nhân, ghi ơn tổ tiên đă dày công lập dựng cơ đồ và để lại gia sản đức tin quí giá, cũng như muốn nói sự hoang tàn, trần trụi của một xứ đạo mà trước đó rất trưởng thành, phát triển của huyện Nam Xang).

4. Tin Mừng đến Nam Xang

4.1 Tin Mừng đến Việt Nam

Theo nội quy cử hành năm tháng 2010, công bố ngày 27.3.2008 của Hội đồng Giám mục Việt Nam. Nh́n lại quăng đường lịch sử gần 500 năm truyền giáo qua 3 thời kỳ: 126 năm Bảo Hộ (1533-1659), 300 năm Tông Toà (1659-1960), đặc biệt là 50 năm Chánh Toà (1960-2010). Nh́n lại lịch sử nhằm mời gọi cộng đồng Dân Chúa Việt Nam cùng chung ḷng tạ ơn Chúa đă thương ban cho Dân Người được h́nh thành, tồn tại và phát triển qua những thăng trầm của lịch sử, đồng thời bày tỏ ḷng biết ơn đối với Toà Thánh và các bậc tiền nhân đă góp phần tích cực vào việc loan Tin Mừng và xây dựng Giáo Hội trên đất nước Việt Nam.

Trong thế kỷ XVI, lịch sử Việt Nam loạn lạc với những tranh chấp giữa nhà Mạc và nhà Lê (1527-1592). Bắc triều nhà Mạc, cũng như Nam triều nhà Lê đều mời đón người Âu châu vào buôn bán với ḿnh. Làm tuyên úy cho các thương thuyền người Âu, các giáo sĩ theo thương gia người Âu bắt đầu đến và truyền giáo ở Việt Nam. Năm 1533, Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục, trong quyển XXXIII, đă ghi “Lời Chúa” để cắt nghĩa lệnh cấm đạo Tây dương, Hoa lang, Gia tô. Trong Lờ i ch u a thứ ba về “Gia tô” chép rằng : “Gia - tô: Theo sách Dă Lục, th́ ngày tháng 3 năm Nguyên Ḥa thứ nhất (1533) đời Lê Trang Tông, người Tây Dương tên là Y-nê-xu lén lút đến xă Ninh Cường, xă Quần Anh huyện Nam Chân và xă Trà Lũ huyện Giao Thủy, ngấm ngầm truyền giáo về tả đạo Gia tô”

Ngày 09.09.1659 Đức Thánh Cha Alexandre VII ban sắc lệnh thiết lập 2 giáo phận truyền giáo đầu tiên tại Việt Nam: Đức Cha François Pallu được bổ nhiệm làm Giám Quản Tông Ṭa Đàng Ngoài, và Đức Cha Pierre Lambert de la Motte được bổ nhiệm làm Giám Quản Tông Ṭa Đàng Trong. Giáo Hội Việt Nam lúc bấy giờ có 100.000 giáo dân. 300 năm sau, năm 1960, số giáo dân việt nam đă tăng lên 21 lần, đạt con số 2.096.540 tín hữu công giáo (Trần Văn Cảnh – Giai đoạn Tông Ṭa)

Hiệp định Genève ngày 20/7/1954 vừa kư xong, nhiều người miền Bắc đă bỏ cửa nhà, làng mạc kéo nhau ra đi với phương tiện riêng, hàng triệu người đổ dồn về Hà Nội, Hải Dương và Hải Pḥng, chờ phương tiện vào Nam. Người ta tính có tới

4.280 chuyến bay, chuyên chở 213.635 người; đường thủy 450 chuyến với 555.037 người; phương tiện riêng khoảng 102.861 người. (Tổng ủy di cư. Cuộc di cư lịch sử tại Việt Nam. Sài G̣n, trang 98, 120,127, 244)

Cuộc di cư đă làm cho t́nh h́nh xă hội, chính trị, kinh tế đảo lộn ở miền Bắc. Giáo hội miền Bắc năm 1957 chỉ c̣n 713.000 giáo dân với 7 giám mục và 374 linh mục. Giáo hội miền Bắc dần bước vào một t́nh thế rất khó khăn: chính quyền hạn chế tối đa việc hành đạo và mở trường học, một số thánh đường đóng cửa hoặc bị chiếm làm kho vật liệu hay xưởng máy, các giám mục bị cô lập, các linh mục gặp khó khăn trong việc di chuyển, không được ra khỏi giáo xứ ḿnh nếu không có phép của công an địa phương. Chỉ ở Hà Nội, nơi có nhiều nhà ngoại giao và du khách ngoại quốc qua lại, người ta mới thấy có chút tự do tôn giáo.

Ngày 24/11/1960 đức Thánh cha Gioan XXIII ban Tông hiến Venerabilium Nostrorum, thiết lập phẩm trật Hội thánh tại Việt Nam, chia Giáo hội Việt Nam thành ba Giáo tỉnh: Hà Nội, Huế, Sài G̣n, mỗi Giáo tỉnh gồm nhiều Giáo phận. Đứng đầu mỗi Giáo tỉnh là Tổng Giám mục, và mỗi Giáo phận là một Giám mục chính ṭa.

***

Hiện nay, Cộng đồng Công giáo tại Việt Nam là một bộ phận của Giáo hội Công giáo Rôma, dưới sự lănh đạo tinh thần của giáo hoàng và giáo triều Rôma. Với khoảng 6,87% (http://www.catholic-hierarchy.org/country/sc1.html), Việt Nam là quốc gia có tỉ lệ người Công giáo (trong tổng dân số) xếp thứ ba ở châu Á, sau Đông Timor và Philippines.

Với tinh thần của Công đồng Vatican II (1965) là tinh thần cởi mở, đối thoại và hoà ḿnh với cộng đồng xă hội ḿnh đang sống. Thư chung của Hội đồng Giám mục Việt Nam năm 1980 đă chỉ ra những đường hướng cụ thể: MỘT HỘI THÁNH V̀ LOÀI NGƯỜI và HỘI THÁNH TRONG L̉NG DÂN TỘC. Trong phần 9. Gắn bó với dân tộc và đất nước viết: “Là Hội Thánh trong ḷng dân tộc Việt Nam, chúng ta quyết tâm gắn bó với vận mạng quê hương, noi theo truyền thống dân tộc hoà ḿnh vào cuộc sống hiện tại của đất nước. Công đồng dạy rằng “Hội Thánh phải đồng tiến với toàn thể nhân loại và cùng chia sẻ một số phận trần gian với thế giới” (MV 40,2). Vậy chúng ta phải đồng hành với dân tộc ḿnh, cùng chia sẻ một cộng đồng sinh mạng với dân tộc ḿnh, v́ quê hương này là nơi chúng ta được Thiên Chúa mời gọi để sống làm con của Người, đất nước này là ḷng mẹ cưu mang chúng ta trong quá tŕnh thực hiện ơn gọi làm con Thiên Chúa, dân tộc này là cộng đồng mà Chúa trao cho chúng ta để phục vụ với tính cách vừa là công dân vừa là thành phần Dân Chúa.”

4.2 Kinh kỳ - Kẻ chợ

Lư Thái Tổ (1010 - 1028) xưng ngôi hoàng đế, thấy đất Hoa Lư chật hẹp không có thể mở mang ra làm chỗ đô hội được, bèn định dời đô về La Thành. Tháng 7 năm 1010, th́ khởi sự dời đô, Tương truyền rằng: Khi ra đến La Thành vua có điềm trông thấy rồng vàng hiện ra, bèn đổi Đại La thành Thăng Long, tức là Hà Nội bây giờ. Đổi Hoa Lư thành phủ Trường An, Cổ Pháp thành phủ Thiên Đức.

Thăng Long là nơi thắng địa có ḍng sông Hồng rộng lớn chảy qua, với những băi phù sa màu mỡ: có hồ Dâm Đàm (Hồ Tây), hồ Trúc Bạch, sông Tô Lịch, hồ Hoàn Kiếm ở giữa, hồ Bảy Mẫu, hồ Dinh Đường và Đầm Sét.

Thăng Long được chọn làm kinh đô suốt 7 thế kỷ (XI - XVIII) trải qua các triều: Lư, Trần, Hồ, Lê,… Năm 1428, Lê Lợi đặt kinh đô tại Thăng Long và đổi tên là Đông Kinh, vào khoảng thế kỷ XVI, khi Đông Kinh trở thành một đô thị sầm uất, có cả người Châu Âu đến buôn bán. Kinh thành Thăng Long trở thành chỗ mua và bán tấp nập đệ nhất vùng, được mệnh danh là Kẻ Chợ. Kẻ Chợ thanh lịch, giàu sang đối với kẻ quê nghèo nàn, thất học.

Trước năm 1626, kinh thành Thăng Long mới chỉ giao lưu thông thương với người Tàu. Măi đến khi phái đoàn thương gia người Bồ Đào Nha từ Đàng Trong ra Đàng Ngoài (1626), Thăng Long mới giao dịch với người châu Âu. Năm 1637, đời vua Thần Tông (1619 - 1643) nhà Lê (tức Lê Nhân Tông) và Thanh Đô vương Trịnh Tráng (1623 - 1657) đă cho người Hà Lan mở thương điếm ở phố Hiến. Người châu Âu từ nhiều nước đă đến Thăng Long thường xuyên. Dĩ nhiên, cùng đi với các thương gia có cả những nhà truyền giáo. Các giáo sĩ khi đến Thăng Long đều nhận thấy Thăng Long là kinh thành tấp nập, là chốn đô hội phồn thịnh.

Cha Alexandre de Rhodes (Đắc Lộ) khi đến Thăng Long ngài được vua Lê Thần Tông và Thanh Đô vương Trịnh Tráng đón tiếp niềm nở, cho trú ngụ trong một ngôi nhà đẹp tại kinh thành Thăng Long và được giảng đạo ở kinh thành. Nhân dịp nói về tục ăn trầu, cha Đắc Lộ kể: “Trong kinh thành có đến 50.000 người bán và cũng có từng ấy người mua”.. Thời gian ở đây không nhiều, cha Đắc Lộ đă là người sáng lập ra Giáo phận Đàng Ngoài, ngài đă rửa tội được khoảng 5000 người, lập nên hội Thày giảng và các nhóm trinh nữ tận hiến, đặt nền tảng cho Giáo hội ở đây trong việc tổ chức, phụng vụ, đào tạo nhân sự, truyền giáo. Ngài cũng mở

đường cho việc học hỏi, nghiên cứu văn hóa phục vụ cho việc truyền giáo, đồng thời góp phần ǵn giữ, bảo tồn văn hóa Việt Nam qua việc xuất bản các tác phẩm chữ Nôm, hoàn thành việc sáng tác chữ quốc ngữ và phổ biến các thành tựu khoa học, kỹ thuật.

Ở kinh thành Thăng Long c̣n có những ngày lễ hội lớn. Mỗi năm có mừng ngày Tết Nguyên đán, có lễ Nam Giao, lễ Tịch điền…. Tóm lại kinh thành đông vui, nhộn nhịp, giàu sang (Hồng Nhuệ Nguyễn Khắc Xuyên, Lịch sử địa phận Hà Nội, trang 99). Dân gian hồi đó có câu: “Thứ nhất kinh Kỳ”

4.3 Phố Hiến

Phố Hiến nằm ở tả ngạn sông Hồng, cách Thăng Long chừng 55 km về phía Nam.. Thoạt đầu, phố Hiến chỉ là một xă nhỏ, có quan cai trị thỉnh thoảng có tàu người Bồ Đào Nha ra vào buôn bán. Năm Đinh Sửu (1637) đời vua Lê Nhân Tông, Thanh Đô

vương Trịnh Tráng mới cho người Hà Lan đến mở cửa hàng ở phố Hiến (gần thành phố Hưng Yên bây giờ). Về sau nơi đây trở thành chỗ cập bến của nhiều tàu người Nhật Bản, người Tàu, người Thái Lan đến buôn bán.

Là thương điếm buôn bán của người nước ngoài, phố Hiến đă trở thành chốn đô hội, qui tụ dân chúng khắp nơi. Theo các giáo sĩ thời đó và sử gia Trần Trọng Kim: phố Hiến có 2000 nóc nhà, có khu phố Bắc Hoa của người Tàu, có khu phố Nam Hoa của người Việt 11 làm thành nơi vui vẻ, tấp nập, nhôn nhịp, cho nên dân gian bấy giờ có câu rằng:

“Thứ nhất Kinh kỳ, thứ nh́ phố Hiến”

Phố Hiến c̣n được chọn làm thủ phủ của hai địa phận Đông và Tây Đàng Ngoài, mặc dù phố Hiến thuộc địa phận Đông. Giám mục của hai địa phận đều là người Pháp, bạn của nhau. Đức cha Bourges (Tây Đàng Ngoài), Đức cha Deydier (Đông Đàng Ngoài). Phố Hiến có chủng viện, có nhà thày giảng, có ruộng đất để sinh sống pḥng khi không có tài trợ từ châu Âu gửi sang. Nhà thờ ở Phố Hiến là một nhà thờ cổ, xây dựng từ thế kỷ 17 theo kiểu Gô-tích. Phố Hiến đă được chọn làm cơ sở của các giám mục họp Công đồng. Tuy nhiên, trong những năm cấm đạo, nhà các Đức cha bị lục soát, khám xét và tàn phá. Đức cha Bourges phải qua Thái Lan, các Giám mục kế vị cũng phải lẩn trốn. Năm1754, các ngài đă chọn Kẻ Vĩnh (Vĩnh Trị ngày nay) làm thủ phủ của địa phận Tây Đàng Ngoài thay cho phố Hiến.

Thời kỳ phồn thịnh nhất của Phố Hiến là vào khoảng giữa thế kỷ XVII (1730 - 1780). Sau đó là quá tŕnh suy thoái, diễn ra trong gần 2 thế kỷ để cuối cùng trở thành tỉnh lị Hưng Yên.

4.4 Người Nam Xang đón nhận Tin Mừng

Năm 1626, có các giáo sĩ ḍng Tên theo thương gia người Bồ Đào Nha tới Kẻ Chợ Đông Kinh Đàng Ngoài (Hồng Nhuệ Nguyễn Khắc Xuyên, Lịch sử Địa phận Hà Nội, trang 1). Ngày 19 tháng 3 năm 1627 cha Đắc Lộ cập bến tại Cửa Bạng - Thanh Hóa và giảng đạo tại đây. Sau đó ngày 2 tháng 7 năm 1627 cha Đắc Lộ được mời tới phủ chúa Trịnh (Trịnh Tráng) và được tự do giảng đạo tại kinh thành. Cha Đắc Lộ viết: “Thế là trong một ít ngày sau, chúng tôi đă được một nhà do lệnh chúa cho dựng, ở địa điểm chúng tôi chọn, với tất cả những sự thuận tiện chúng tôi mong muốn. Ngôi nhà chỉ bằng gỗ theo kiểu nhà người bản xứ, nhưng khá rộng và cấu trúc cũng giống như các nhà của những bậc quyền quí. Thế là vào cuối tháng 9, bốn tháng sau khi chúng tôi tới kinh thành, chúng tôi sang ở nhà mới, một phần dùng làm nhà thờ và là nơi (ngay khi chúng tôi tới ở) rất đông người tới, đến nỗi chúng tôi phải giảng mỗi ngày sáu buổi, ba buổi vào ban sáng và ba buổi vào ban chiều, để làm thỏa măn sự chờ đợi của những người liên tiếp luân phiên nhau tới. Kết quả lượm được từ những việc chúng tôi gieo th́ rất lớn đến nỗi chúng tôi phải bỏ ra hai ngày trong tuần để làm phép rửa tội cho những người xin và thường là hai mươi và thỉnh thoảng tới bốn mươi, trong số đó có người thuộc thành phần quyền quí, cả trong hoàng tộc.” (Alexandre de Rhodes, Lịch sử vương quốc Đàng Ngoài, trang 112)

Tuy nhiên, mối tương giao không lâu. Năm 1629, chúa Trịnh Tráng ra lệnh trục xuất cha Đắc Lộ. Sự nghiệp của cha Đắc Lộ ở Đàng Ngoài có giá trị to lớn:

- Đặt cơ sở hay thiết lập Giáo hội Đàng Ngoài

- Học hỏi về đất nước con người Việt Nam vào đầu thế kỷ XVII với cuốn Lịch sử vương quốc Đàng Ngoài

- Hoàn tất công tŕnh h́nh thành chữ quốc ngữ với ba tác phẩm danh tiếng: Từ điển Việt - Bồ - La, Ngữ pháp tiếng Việt và Phép giảng tám ngày.

Lịch sử Đàng Ngoài viết năm 1636, in năm 1650, th́ cho biết một số rất ít các giáo đoàn tiên khởi. Thứ nhất, năm 1627 khi mới tới th́ có Cửa Bạng – Thanh Hóa rồi An Vực, Hai An. Khi lên tới Kẻ Chợ th́ có Cầu Giền, có Vũ Xá (Vũ Xá là địa danh có thể thuộc vùng đất huyện Nam Xương, phủ Lư Nhân, trấn Sơn Nam?), có Kẻ Đông (Hải Dương) (Hồng Nhuệ Nguyễn Khắc Xuyên, Lịch sử Địa phận Hà Nội, trang 28). Nam Xang là vùng đất nằm gần với kinh thành Thăng Long và ph ố Hiến, có con sông Hồng, sông Đáy rộng lớn chảy qua, người dân hiền ḥa, có tinh thần ham học hỏi, tiếp thu những nền văn minh mới. V́ thế nơi đây là nơi dừng chân của những thuyền buôn lớn và là nơi để các nhà truyền giáo là lẽ thường tnh. Bảng điều trần của Amaral nói tới sự phân chia ranh giới Giáo hội Đàng Ngoài gồm: Kẻ Chợ, Thanh Hóa, Nghệ An. Địa hạt Kẻ Chợ gồm Kẻ Chợ và vùng kế cận hoặc xa hơn chút nữa, có thể cả bốn tỉnh chung quanh Kẻ Chợ mà bản đồ năm 1650 ghi là Kẻ Bắc, Kẻ Tây, Kẻ Đông và Kẻ Nam (Sơn Nam).

Bản kê khai năm 1753 ghi lại: Phủ Lư Nhân:

- Nam Xang, 81 xă, 4.183 giáo dân

- Huyện B́nh Lục, 32 xă, 6.301 giáo dân

- Huyện Thanh Liêm, 53 xă, 3.865 giáo dân

- Huyện Duy Tiên, 55 xă, 2.746 giáo dân

- Huyện Kim Bảng, 49 xă, 799 giáo dân

Tổng cộng 17.894 giáo dân.

Giáo dân thuộc ḍng Tên ở xen kẽ với giáo dân thuộc linh mục triều, huyện Nam Xang th́ có Phú Đa (Kẻ Sào) với 187 giáo dân thuộc các cha ḍng Tên (Hồng Nhuệ Nguyễn Khắc Xuyên, Lịch sử Địa phận Hà Nội, trang 118, 124). Với con số đó trung b́nh mỗi xă có 50 người theo đạo Kitô giáo. Huyện Nam Xang có một xứ duy nhất: xứ Nam Xang (xứ Công Xá ngày nay). Thời gian này các linh mục người Pháp đă về mục vụ, đặt Công Xá làm trụ sở của địa hạt Nam Xang. Bấy giờ cố Pháp cho dựng một ngôi nhà thờ bằng gỗ lim và một tu viện Mến Thánh Giá trên mảnh đất xóm 4 Công Xá hiện nay.

Như vậy, người dân Nam Xang nói chung, người Công Xá nói riêng đă được đón nhận đức tin Kitô giáo rất sớm. Với khoảng 100 năm hiện diện (? - 1753), hạt giống Tin Mừng được gieo trồng nơi mảnh đất này đă âm thầm lớn mạnh, trổ sinh nhiều hoa trái tốt đẹp. Nhiều cộng đoàn đức tin được thành lập (họ đạo) cùng với đó là những ngôi nhà thờ bắt đầu được xây dựng.

Cùng với Kẻ Chợ Kinh thành và nhiều nơi khác, giáo dân Nam Xang trải qua nhiều giai đoạn khắc nghiệt với những sắc chỉ cấm đạo của chúa Trịnh đến chúa Nguyễn. Người dân vẫn kiên trung bảo vệ đức tin Kitô giáo của ḿnh. Tuy phải bị phân sáp nhiều lần, nhiều người chịu chết v́ đạo. Nhưng khi có cơ hội người người dân lại quay về hoặc góp công sức để tái thiết lại quê hương. Bản thống kê năm 1892 ghi lại: huyện Nam Xang: 16.000 giáo dân, xứ Công Xá: 7.857 giáo dân.

Số lượng người gia nhập Kitô giáo mỗi ngày một lớn. Năm 1902, xứ Nam Xang được chia làm ba giáo xứ:

1. Giáo xứ Công Xá

2. Giáo xứ Vĩnh Đà

3. Giáo xứ Vũ Điện

Thống kê năm 1918 (Hồng Nhuệ Nguyễn Khắc Xuyên, Lịch sử Địa phận Hà Nội, trang 257) ghi lại

- Giáo xứ: Công Xá, Phú Đa, Vũ Điện, Mạc Thượng (tất cả là tân ṭng), Khoan Vĩ 11.398 giáo dân.

- Vĩnh Đà, Lư Nhân, Bàng Ba 5.180 giáo dân

Năm 1940 (Hồng Nhuệ Nguyễn Khắc Xuyên, Lịch sử Địa phận Hà Nội, trang 262), địa hạt Nam Xang có: 5 giáo xứ, 2 phụ, 12.058 giáo dân

1. Công Xá: 2 trường học, 185 học sinh, 9 họ, 1.865 giáo dân

Nhà Ḍng Mến Thánh giá :11 nữ tu

2. Phú Đa: 2 trường học, 195 học sinh, 9 họ, 3.525 giáo dân

Nhà Ḍng Mến Thánh giá: 17 nữ tu

3. Khoan Vĩ: 3 trường học, 183 học sinh, 5 họ, 3.224 giáo dân

Nam Xá: 2 trường học, 74 học sinh, 8 họ, 914 giáo dân

4. Vũ Điện: 2 trường học, 75 học sinh, 6 họ, 1.123 giáo dân

Đồng Yên: 2 trường học, 85 học sinh, 4 họ, 1.258 giáo dân

5. Bàng Ba: 2 trường học, 55 học sinh, 8 họ, 1.149 giáo dân

Năm 1951, các địa hạt trong huyện Nam Xang được chia như sau: (Thư chung số 9 của Đức Hồng Y Giuse – Maria Trịnh Như Khuê, ngày 02 / 7 / 1951, Têrêxa ấn quán, Hà Nội)

1. Địa hạt Công Xá, trụ sở: Công Xá

Xứ Công Xá, Thượng Vĩ, Nam Xá

2. Địa hạt Phú Đa, trụ sở: Phú Đa

Xứ Phú Đa, Đồng Phú, Vũ Điện, Mạc Xá, Quan Hạ

3. Địa hạt Vĩnh Đà, trụ sở: Vĩnh Đà

Xứ Vĩnh Đà, Lư Nhân, Bàng Ba, Ngọc Lũ, Tử Thanh

Do những hoàn cảnh lịch sử khác nhau, người dân phải ly tán khắp nơi, người ở lại th́ gặp rất nhiều khó khăn, làng xóm bị tàn phá, nhiều cơ sở vật chất: nhà thờ, nhà xứ, trường học, tài liệu…không c̣n. Những dấu tích c̣n lại đă bị thay đổi hoặc thành nơi đổ nát hoang tàn, hoặc là nơi dân cư sinh sống. Các cộng đoàn đức tin một thời vững mạnh, to lớn nay nhiều nơi đă không c̣n hay đă già cỗi. Tuy nhiên, niềm tin Kitô giáo không tàn lụi, nó là một cái ǵ đó không thể mất đi. Ngày nay nhiều cộng đoàn tín hữu đang hồi sinh, nhiều cơ sở Công giáo đang được khôi phục, tái thiết. Chứng tỏ hạt giống Tin Mừng đă hội nhập vào văn hóa, thấm nhuần nơi con người Nam Xang, nó đă bén rễ sâu và đang hồi sinh nơi những cộng đoàn

5. Xứ Đạo Công Xá

Nằm trên vùng đất với những trang sử hào hùng, giàu truyền thống của đồng bằng sông Hồng. Người dân không chỉ tảo tần sớm hôm với băi lúa nương dâu mà họ c̣n có những sinh hoạt tinh thần phong phú, đa dạng. Những hoạt động tinh thần như cái ǵ đó được thăng hoa, lấy lại nghị lực sau những ngày lam lũ, vất vả với thiên nhiên và con người nơi đây. Kitô giáo có những đặc tính rất riêng, phù hợp để thánh hóa con người và nền văn minh lúa nước. V́ thế, những hạt giống Tin mừng đă được gieo văi nơi đây.

Hoạt động truyền giáo do các thừa sai ngoại quốc được khởi đầu ở Đàng Ngoài năm 1627 tại Kinh thành Thăng Long (Hà Nội) và phố Hiến. Ít lâu sau, việc truyền giáo đă ảnh hưởng mạnh mẽ đến lưu vực sông Hồng và vùng phụ cận, người dân Nam Xang đă đón nhận Tin Mừng trong thời kỳ này.

Từ khi người dân Nam Xang đón nhận đức tin Kitô giáo vào thế kỷ XVII, cả huyện có một xứ đạo Nam Xang duy nhất (có trụ sở ở Công Xá hiện nay), năm 1902 được chia thành ba địa hạt: xứ Công Xá, xứ Vĩnh Đà, xứ Vũ Điện.

Xứ Công Xá là xứ Mẹ (xứ gốc) của: xứ Khoan Vĩ, Nam Xá, Phú Đa, Đồng Phú, Mạc Thượng, Quan Hạ, Vĩnh Trụ. Riêng xứ Công Xá có các họ giáo: Hội Động, Mai Xá, Văn Xá, Thổ Ốc, Cầu Không, Tế Xuyên, Phú Khê, Ngô Thôn…

Từ những năm đầu h́nh thành xứ Nam Xang, trải qua những giai đoạn thăng trầm của lịch sử. V́ có trụ sở tại xứ Công Xá, nên có thể nói rằng: những hạt giống Tin Mừng đă được gieo mầm đầu tiên trên chính mảnh đất Công Xá này.

Từ lúc khởi đầu đón nhận Tin Mừng cho đến ngày thành lập giáo xứ năm 1902, giáo xứ Công Xá luôn trong t́nh thế khó khăn, cấm cách. Tuy có lệnh của triều đ́nh , song việc cấm đạo không đến nỗi gắt gao, chủ yếu là những sách nhiễu của địa phương hơn là những truy nă thực sự theo lệnh trên. Thời vua Gia Long (1802 -

1820) và những năm đầu của vua Minh Mạng (1821 - 1832), đạo Công giáo được phép hoạt động tự do. Năm 1833, vua Minh Mạng ra sắc chỉ cấm đạo; truyền tập trung tất cả các thừa sai nước ngoài về kinh đô và tất cả các linh mục Việt Nam về tỉnh đường; triệt hạ tất cả các nhà thờ, nhà nguyện; triệu tập tất cả tín hữu lên huyện

đường bắt khóa quá, bỏ đạo. Khi ấy, giáo dân xứ Công Xá đều bị bắt giải về pháp trường Bảy Mẫu – Nam Định: bắt khóa quá bước qua Thánh giá, ai không theo ư vua th́ bị nhục h́nh; bắt các ngài đào hố, đứng xung quanh, rồi đẩy xuống, sau đó lại bắt giáo dân xứ khác lấy đi mai táng…Một số giáo dân phải sang các làng bên cạnh để ẩn náu, người th́ chạy chốn nơi rừng thiêng nước độc, số khác bị đóng dấu chín ở mặt, bắt đi phân sáp đến các tỉnh phía Bắc.

Trong hoàn cảnh đau thương trên, nhiều người bị bắt và chịu tử đạo, nhiều người bỏ làng ra đi và cũng nhiều người ở lại quyết giữ vững, bảo vệ niềm tin của ḿnh như: cha Giacôbê Hoan và nhiều giáo dân khác.

Lời các cụ kể lại: Trước khi có nhà thờ hiện nay th́ đă có hai lần dựng, xây nhà thờ. Không rơ đời cha nào? Đă dựng một nhà thờ nhỏ tại trung tâm xóm trên làng (xóm 4 hiện nay), chung quanh nhà thờ bưng bằng gỗ và một nhà xứ nhỏ bằng gỗ lim, lợp cỏ gianh.

Trải qua nhưng hời kỳ cấm đạo khắc nghiệt, dân làng nhiều lần phải li tán khắp nơi, nhiều nhà dân bị đốt cháy cùng với nhà thờ, nhà xứ. Sau thời kỳ cấm đạo, t́nh thế ổn định, dân làng dần trở về tái thiết xóm làng. Nhiều người do những điều kiện không về được th́ đóng góp công sức, vật chất và tinh thần trên mảnh đất tổ tiên gây dựng. Trước sự khao khát và ḷng mến đạo của giáo dân. Cha già Điện đă cho xây dựng lại một ngôi nhà thờ nhỏ bằng gạch và lợp ngói nam, cũng trên nền của ngôi nhà thờ cũ.

Những hạn chế về tôn giáo và các cơ sở đạo Công giáo vẫn xảy ra. Ít lâu sau, cố Pháp đă cho làm ngôi nhà thờ mới, c̣n chỗ đất nhà thờ và nhà xứ cũ được bán lại cho gia đ́nh bà Giản, con bà Giản (bà Cơ) và người cháu bà Cơ (nay là ông Tượng). Ngôi nhà gia đ́nh ông Tượng ở bây giờ là khu đất nhà thờ cũ trước đây.

Theo kể lại, khi làm nhà thờ mỗi xuất đinh (đầu người) đóng góp 1/3 ḷ gạch nung ở làng Ng̣, rồi chở về theo đường cồng Gành qua xóm 4. Nguyên liệu khác như: đá, gỗ, sét thép được vận chuyển từ Sở Kiện bằng đường thủy sông châu Giang. Từ sông châu Giang, cố Pháp cho đào một con mương đến khu đất nhà thờ. Diện tích xây dựng và khu đất nhà thờ mới lúc đó chỉ có một nửa đất cũ (là gồ mả), c̣n lại một nửa là đất vượt, v́ thế tạo nên những đầm hồ xung quanh nhà thờ hiện nay.

Nhà thờ mới được xây dựng với lối kiến trúc Romans (Romăng)22. Có diện tích: Chiều dài 41,25m – Chiều rộng 12,6m (ḷng nhà thờ) – tháp cao 25m Sau khi nhà thờ mới được xây dựng, diện tích đất nhà Ḍng bán cho cụ lang Trưởng và ông Khâm. Hiện nay là nơi sinh sống của gia đ́nh bà Miến và ông Đáp. Đất mới nhà Ḍng được chuyển đến khu vực gần nhà thờ, hiện nay thuộc địa dư hành chính xóm 3. Nhà Ḍng mới này được xây dựng và hoàn thành năm 1927.

(Kiến trúc Romăng là kiểu kiến trúc nhà thờ châu Âu từ thế kỷ X đến thế kỷ XII. Gọi là Romăng v́ nói tiếp thu lối xây dựng của La Mă. Kiến trúc Romăng như sau: Ngoại thất của nhà thờ trơn tru, giá lạnh, các cửa sổ và cửa chính đều nhỏ, giống như các lỗ châu mai, ṿm cửa có h́nh bán nguyệt, các tháp chuông h́nh trụ với nóc nhọn hoặc như các vệ sĩ đội mũ sắt đứng bảo vệ nhà thờ. Đỗ Văn Khang – Nghệ thuật học, trang 41)

Hiện nay, xứ Công Xá gồm : họ Nhà xứ, họ Hội Động, họ Mai Xá.

Thôn Công Xá gồm 4 xóm: xóm 1, xóm 2, xóm 3, xóm 4 thuộc xă Đồng Lư, huyện Lư Nhân, tỉnh Hà Nam. Với số giáo dân 4 xóm là: 2423 tín hữu.

Ngoài nghề chính là nông nghiệp và thợ gỗ c̣n có nhiều nghề khác như: đan mành, thêu ren… tạo nên nguồn thu nhập kinh tế tương đối ổn định của người dân.

Các tổ chức, đoàn thể trong xứ đạo tạo nên sự chắc chắn, bền vững trong việc phát triển giáo xứ. Các hội đoàn như: Ban Ca Đoàn, Thiếu nhi Thánh Thể, Giới trẻ, Các Bà Mẹ Công Giáo, Hội Thánh Giuse, Hội Mân Côi, Tông đồ Legio Maria đă và đang hoạt động tích cực trong việc củng cố, xây dựng hội đoàn của ḿnh và giáo xứ bằng việc canh tân và lành mạnh đời sống bản thân và môi trường xung quanh theo tinh thần Kitô giáo.

Ngoài ra:

 Tham gia các phong trào, chương tŕnh của Bề trên.

 Cộng tác với Ban hành giáo trong việc tổ chức, điều hành các hoạt động chung của giáo xứ.

 Tham gia các hoạt động bác ái, từ thiện, khuyến học

 Truyền giáo và tái truyền giáo môi trường sống

Hàng năm, vào những ngày Lễ trọng, dịp chầu Thánh Thể thay mặt Địa phận, Lễ Quan thầy thánh Gioan Baotixita, Kỷ niệm Cung hiến nhà thờ… đă qui tụ rất đông đảo những người con Công Xá từ nhiều nơi về quê hương.

Nh́n lại lịch sử Giáo xứ Công Xá không những để ca tụng các bậc tiền nhân đă dày công chọn đất lập làng, không những thấy được những nếp đẹp truyền thống trong việc đối nhân xử thế và những chứng nhân đức tin mà c̣n là gương sáng để con cháu ǵn giữ, noi theo.

Tuy nhiều giá trị vật chất, tinh thần do nhiều hoàn cảnh khác nhau đă không c̣n hay hư hỏng. Nhưng cái chính yếu vẫn c̣n có lẽ là mảnh đất “địa linh nhân kiệt” với tấm ḷng hài ḥa, rộng mở của con người nơi đây.

Xứ đạo Công Xá với ngôi nhà thờ trên 100 năm có lẽ là dấu chỉ đẹp nhất không chỉ riêng về đức tin Kitô giáo mà c̣n là biểu tượng của tinh thần đoàn kết, hài ḥa, vươn lên trong cuộc sống. Ngôi nhà thờ với tiếng chuông vang lên mỗi ngày; giúp ta luôn thức tỉnh là người Kitô hữu; gợi nhắc cho ta niềm tự hào là người Công Xá; và cũng để mời gọi sống yêu thương và cùng nhau tạ ơn Thiên Chúa.

Niềm tự hào là người dân nơi đây sẽ là một nguồn động lực lớn để mỗi người yêu thương hơn, thăng tiến và triển nở hơn trong nhân cách và đức tin.

HẾT

Ban truyền thông giáo xứ Công Xá

Nguồn : FB Gx Công Xá

 

Chi tiết bổ sung xin gởi về


giaoxugiaohovietnam@Yahoo.com 

..............

Nguồn : Web site TGP Hà Nội

 


H́nh ảnh nhà thờ Giáo xứ Công Xá

 

 

H́nh ảnh Giáo xứ Công Xá chầu Thánh Thể thay mặt Giáo phận (26/8/2012)

Nguồn : Web site TGP Hà Nội

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

[Trở về đầu trang ]