Giáo phận Thái B́nh

Nhà thờ Giáo xứ Cát Đàm

 

Nhà thờ Giáo xứ Cát Đàm
Giáo hạt Kiến Xương

 

Địa chỉ : Xóm 8, xă Đông Ḥa, thành phố Thái B́nh, tỉnh Thái B́nh ( Bản đồ )

Chánh xứ : Linh mục Giuse Lư Văn Thưởng OP

Tel

 

E-mail

 

Năm thành lập

1946

Bổn mạng

Thánh Vinh Sơn

Số giáo dân

819

Giờ lễ

Chúa nhật     :

Ngày thường :

Các nhà thờ lân cận :   Gh Cát Nội

Tư liệu :  Lược sử Giáo xứ - H́nh ảnh Giáo xứ 

-  Tin tức sinh hoạt

* Giáo Xứ Cát Đàm Mừng 75 Năm Thành Lập (1940 – 2015) (5/5/2015)

* H́nh ảnh Đức Cha Phêrô kinh lư Gx Cát Đàm (21/7/2014)

* Đức Cha Phêrô chủ sự thánh lễ và ban Bí tích Thêm sức tại Gx Cát Đàm (11/5/2013)
* Giáo Xứ Cát Đàm Chào Mừng Tân Hội Đồng Mục Vụ (12/6/2011)
* Video Giới trẻ giáo xứ Cát Đàm
* Giáo Xứ Cát Đàm Mừng Lễ Thánh Quan Thầy Vinh-Sơn

 

Lược sử Giáo xứ Cát Đàm

< Nguồn : Website Giáo Phân Thái B́nh >

Giáo xứ Cát Đàm, trước đây là họ Cát Trang thuộc giáo xứ Sa Cát, nằm sát cạnh sông Trà Lư, cách TGM và Nhà thờ Chính ṭa chừng 3km về phía Đông-Bắc. Theo Sử Kư Địa Phận Trung, th́ từ năm 1722 đă có cha Viên coi sóc họ này.1 Như vậy dân làng Cát Trang đă được đón nhận ánh sáng Tin Mừng từ rất sớm và rất kiên trung giữ vững đức tin qua nhiều cuộc bách hại đẫm máu dưới những thời kỳ cấm đạo gay gắt của các vua chúa quan quyền xưa kia.

Đến năm 1892, dưới thời Cụ Lư Hinh và Cụ Chánh Quế,2 một ngôi nhà nguyện nhỏ năm gian bằng gỗ được xây dựng theo lối cổ để kính thánh Vinh Sơn (Vincente Ferre). Nơi đây rất nhiều người đă nhận được các ơn lạ Chúa ban nhờ lời chuyển cầu của thánh Vinh Sơn.3

Khi địa phận Thái B́nh được thành lập (9/3/1936), Đức Giám mục tiên khởi, Juan Casado Thuận OP, đă cho xây dựng nhiều cơ sở mới trong giáo phận. Một trong những công tŕnh phải kể đến đó là Chủng viện Thánh Thomas Mỹ Đức, nay là Chủng viện Thánh Tâm Mỹ Đức, khánh thành cuối tháng 8/1937. Nơi đây đă đón tiếp nhiều Đấng vị vọng trong Giáo hội. Ngày 13/11/1937 đón Đức Khâm sứ Ṭa thánh Son Ex. Mgr. A. Drapier, OP tới thăm và dâng lễ. Ngày 19/12/1937 đón Cha M. S. Gillet, OP., Bề trên Tổng quyền Ḍng Đaminh tới thăm nhân chuyến kinh lư vùng truyền giáo Đông Dương.4Ṭa nhà Chủng viện ba tầng đồ sộ này nằm trên phần đất nhà thờ họ Mỹ Đức trước kia. V́ thế, khi xây dựng Chủng viện th́ số giáo dân ít ỏi của họ Mỹ Đức được sáp nhập vào họ Cát Trang để thành một họ đạo mới lấy tên gọi của một đơn vị hành chính cấp Tổng của xă hội thời bấy giờ đó là : Tổng Cát Đàm thuộc Phủ Thái Ninh. Tổng Cát Đàm (gồm 15 xă): Bồ Xuyên Tả, Cầu Nghĩa, Cầu Nhân, Duy Tân, Hiệp Trung, Hưng Quan, Nam Thọ, Nghĩa Phương, Phương Cúc, Phương Đài, Sa Cát Lương, Sa Cát Giáo, Thượng Đạt, Trường Quan và Vinh Quan.5 Nhà thờ Cát Đàm ngày nay nằm trên phần địa lư hành chính thôn Nghĩa Phương, xă Đông Ḥa, tp. Thái B́nh.

Đầu năm 1938 cha Juan Jiménez (Nhân) OP., là cha Chính địa phận đồng thời là Bề trên các cha ḍng Đa Minh trong địa phận mới, đă cho xây một ngôi nhà ba tầng khá kiên cố, rộng 12 mét + dài 32 mét trên một khu đất rộng 10.000 mét vuông nằm bên cạnh phía nam nhà thờ Cát Đàm, để làm trụ sở cha Bề trên Phụ tỉnh của Tỉnh ḍng Nữ Vương Rất Thánh Mân Côi (Holy Rosary) tại Bắc Kỳ, quen gọi là sở cha chính ḍng.

Đầu năm 1940 họ Cát Đàm được Đức Giám mục tách ra khỏi xứ Sa Cát để trở thành một giáo xứ mới và thuộc quyền cha Bề trên ḍng coi sóc, với số nhân danh khoảng hơn 300. Tháng 2/1940 cha Chính Nhân xin nghỉ hưu và trở về quê hương (Tây Ban Nha) v́ tuổi cao sức yếu sau hàng chục năm miệt mà trên cánh đồng truyền giáo. Đến tháng 4/1940 cha Chính Antoni Silva (An), OP., từ địa phận Bắc Ninh được đổi về trị sở Cát Đàm làm bề trên ba địa phận ḍng đồng thời coi sóc giaùo xöù Caùt Ñaøm. Tháng 9/1940 cha Bề trên cho tu sửa gian cung thánh của ngôi nhà thờ này để có chỗ làm lễ cho rộng răi sáng sủa.6

Từ khi giáo xứ được thành lập, dưới sự chăn dắt của các nhà truyền giáo nhiệt thành, ḷng đạo đức của bà con giáo dân như được tiếp thêm một sức sống mới. Các hội đoàn dần dần được h́nh thành, mọi sinh hoạt của giáo xứ dần đi vào nề nếp và ổn định hơn. Các ngày lễ lớn, các tuần chầu hằng năm và các cuộc rước kiệu được tổ chức long trọng, nhất là trong Tuần Thánh và tháng Mân Côi.

Điều này đă được phần Tin Tức của Văn Côi Tạp Chí mô tả như sau : “... Trong tháng Văn-côi, tối nào cũng chầu Ḿnh Thánh cách trọng thể, lại sửa sang dọn chung quanh nhà thờ lấy đường để đi kiệu trong tháng Văn-côi và các ngày đầu tháng quanh năm. Bởi thế trong tháng Văn-côi năm nay giáo hữu trong họ sốt sắng sầm uất hơn mọi năm.

Lại hôm 5-10-40, cha bề trên có bắt đầu mở tuần cấm pḥng cho giáo-hữu để dọn ḿnh xưng tội chịu lễ để mừng lễ rất thánh Văn-côi cách trọn thể.

Sáng hôm chủ nhật là chính ngày lễ Văn-côi ; hồi 7 giờ sáng, bề trên ra nhà thờ làm lễ hát cách trọng thể, do hội nghĩa binh hát, cung đàn tiếng hát lên bổng xuống trầm giéo giắt êm đềm của các em nỏ nghĩa binh hát rất hay ; sau phúc âm, cha bề trên diễn thuyết một bài nói về phép lần hạt Văn-côi Đức Bà cách rất hùng hồn ; hôm đó các giáo hữu xưng tội chịu lễ hầu hết hễ là ai đă đi xem lễ th́ chịu lễ cả!

Khi lễ đoạn các giáo hữu đua nhau đến viếng nhà thánh rất đông suốt ngày. Hồi 5 giờ chiều có tổ chức cuộc rước kiệu Văn-côi Đức Bà. Các phần việc đă tề tựu sẵn sàng, các người chung quanh miền ấy kéo nhau đến xem đông lắm ; song bị giời mưa to không rước kiệu được, chỉ chầu Ḿnh Thánh trọng thể mà thôi ; ai nấy đều lấy làm tiếc v́ không được rước kiệu.

Cuộc lễ này đối với các nơi khác th́ cũng chẳng có ǵ là đáng kể cả, song đối với giáo hữu ở đấy th́ cũng là điều đáng khen ḷng nhiệt thành của Cha Bề trên và ḷng đạo đức các giáo hữu v́ số nhân danh có thế, mà sự xưng tội chịu lễ hằng ngày khá đông, là hễ ai đi xem lễ th́ cũng dọn ḿnh chịu lễ, c̣n người không chịu lễ th́ ít ; chịu lễ ngày thường hằng ngày cũng tới một trăm”.

Sự b́nh an hạnh phúc của đoàn chiên trong đời sống đức tin thật là văn vỏi! Khi Biến cố di cư 1954 xảy đến đă để lại nhiều mất mát và thương tổn. Ngày 30/6/1954 hơn 90% bà con giáo dân của giáo xứ bỏ lại nhà cửa, ruộng vườn và phần đất của tổ tiên để theo đoàn người di cư vào Nam. Từ đó hoàn cảnh của giáo xứ cũng trở nên tiêu điều và hoang tàn v́ chỉ c̣n lại 12 gia đ́nh trong 8 nóc nhà; gồm gia đ́nh (Cụ Trùm Châu, Cụ Thủ Tháp, Cụ Trùm Nghi, Cụ Két San, Cụ Trương Rư, Cụ Trương Tề, Cụ Trương Tửu, Cụ Trùm Tốn và Cụ Trùm Sơ, Cụ Trùm Nơm và Cụ Trương Cừ) vỏn vẹn 40 nhân danh. Số nhân danh ít ỏi cộng với những sự khó khăn của thời cuộc đă làm cho đời sống đạo của người giáo dân trong giáo xứ ngày càng trở nên cơ cực hơn. Nhưng chính những gian nan thử thách đó đă làm cho đời sống đức tin của người giáo dân ngày càng kiên cường hơn để “xưng đạo ra trước mặt thiên hạ”. Đúng như lời Thánh Gia-cô-bê Tông đồ dạy rằng : “Anh em hăy tự cho ḿnh là được chan chứa niềm vui khi gặp thử thách trăn chiều. V́ như anh em biết : đức tin có vượt qua thử thách mới sinh ra ḷng kiên nhẫn” (Gc 1,2-3).

Hằng ngày bà con giáo dân vẫn cứ trung thành với việc lần chuỗi Mân Côi sớm tối tại nhà thờ và tại tư gia, đó chính là sức mạnh tinh thần giúp giữ đạo vững vàng hơn để vượt qua những cơn sóng gió. Tuy nhiên, việc thiếu vắng các vị chủ chăn là một sự thiệt tḥi lớn cho các tín hữu trong thời kỳ đầy biến động này.

Ngày 16/7/1960 Đức cha Đa Minh Đinh Đức Trụ truyền chức linh mục cho bốn thầy: Giuse M. Đinh Bỉnh, Giuse M. Vũ Văn Vân, Gioakim Trần Trọng Uyên và Giuse M. Bùi Văn Cẩm. Khoảng tháng 9/1960 cha Giuse Vũ Văn Vân được bổ nhiệm coi sóc giáo xứ Cát Đàm cho đến tháng 1/1963. Sau đó cha được thuyên chuyển về giáo xứ Trung Đồng và ngài đă qua đời tại đây ngày 18/04/1990, hưởng thọ 96 tuổi.

Tháng 5/1963 cha Giuse Maria Đinh Bỉnh, làm chánh xứ Cát Đàm và Sa Cát, cùng với sự phụ giúp của cha Gioakim Trần Trọng Uyên. Cũng trong giai đoạn này cha Giuse phải lo điều hành Chủng viện Mỹ Đức, một thời kỳ đầy sóng gió.

Năm 1972 cha Giuse Đinh Bỉnh đă cho sửa chữa lại gian cung thánh và nối thêm ba gian cuối của nhà thờ Cát Đàm. Sau đó cha c̣n ở lại Chủng viện cho đến tháng 7/1977 th́ ngài trở về Ṭa Giám Mục để chuẩn bị cho một sứ vụ mới quan trọng hơn. Cuối năm 1979 Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đă chọn ngài làm Giám mục phó giáo phận Thái B́nh với quyền kế vị Đức cha Đa Minh và Thánh lễ tấn phong Giám mục được cử hành ngày 8/12/1979.

Tháng 7/1973 Cha Chính Giuse Maria Bùi Văn Cẩm được Bề trên Giáo phận bổ nhiệm làm cha xứ giáo xứ Cát Đàm. Ngay sau đó, tháng 8/1973 họ giáo Cát Nội được tách khỏi giáo xứ Sa Cát để sáp nhập vào giáo xứ Cát Đàm. Và đến ngày 15/11/1989, có 22 gia đ́nh với 92 nhân danh thuộc giáo họ Cát Nội được thuyên chuyển về họ nhà xứ để việc phụng vụ được thuận tiện. Tuy nhiên, sự thuyên chuyển này cũng đă gây lên một bầu không khí căng thẳng v́ sự lưu luyến với họ giáo mà xưa nay các gia đ́nh này gắn bó. Đến nỗi cha Chính đồng thời cũng là cha xứ sở tại, đă phải trăn trở nhiều : “Tùy ư các gia đ́nh, đóng góp họ trong hay họ ngoài. Đâu cũng cố giữ đạo cho ḿnh và cho con cháu”.[1] Nhưng nhờ ơn Chúa thương mọi sự dần đi vào ổn định và nề nếp. Dưới sự hướng dẫn tài t́nh của cha Chính, mọi thành phần của giáo xứ không phân biệt cũ mới đă chung tay góp sức, một ḷng một ư xây dựng nên một cộng đoàn đức tin sống động. Điều này được thể hiện rất rơ qua việc tổ chức các ngày lễ lớn, các Tuần chầu Thánh Thể thay mặt Giáo phận và việc xây dựng ngôi thánh đường mới hiện nay, tuy chưa hoàn thành nhưng cũng là một nỗ lực đầy cố gắng. Ngày 01/2/2003 cha Chính chuyển đi coi sóc giáo xứ Sa Cát sau 30 năm gắn bó với đàn chiên nhỏ bé Cát Đàm.

Ngày 17/3/2003 Cha F.X., Ngô Văn Toan được Đức Cha F.X Nguyễn Văn Sang bổ nhiệm làm chánh xứ Cát Đàm nhiệm sở tại Chủng viện Mỹ Đức. Vẫn tiếp nối đường hướng mục vụ của cha Chính Giuse, với tinh thần và nhiệt huyết của một linh mục trẻ Cha F.X., đă mang lại một bầu không khí năng động hơn cho giáo xứ. Cha đă dành nhiều thời gian và công sức cho việc huấn luyện các hội đoàn trong giáo xứ, nhất là giới trẻ. Bên cạnh đó, cha đă huy động bà con giáo dân chỉnh trang lại khuân viên nhà thờ giáo xứ và giáo họ ; làm đường kiệu, xây tường rào và trồng cây xanh tạo nên một quang cảnh đạt ba tiêu chuẩn “xanh, sạch, đẹp” mang lại nhiều lợi ích cho cộng đồng và xă hội. Bộ mặt của giáo xứ được thay đổi hằng ngày, nhưng thời gian cha gắn bó với cộng đoàn lại quá ngắn chỉ có 2 năm. Ngày 28/3/2005 Cha F.X., đă phải xa rời cộng đoàn để đảm nhận nhiệm vụ mới. Việc cha ra đi đă để lại cho cộng đoàn ít nhiều hụt hẫng v́ c̣n rất nhiều chương tŕnh với bao ưu tư trăn trở đành bỏ dở dang.

Nhưng “đến muôn đời Chúa vẫn trọn t́nh thương”, ngay ngày hôm sau 29/3/2005 cả cộng đoàn giáo xứ đă vui mừng đón cha xứ mới, Cha Luca Nguyễn Văn Định. Với tính t́nh trầm lặng và tâm hồn sâu sắc Cha Luca đă đề cao đời sống nội tâm hơn là những h́nh thức bên ngoài. Cha đă mời gọi sự đóng góp của bà con để tu bổ gian cung thánh và làm bàn thờ mới, một bàn thờ bằng đá to nhất giáo phận. Với thời gian hơn ba năm coi sóc, cha đă điều hành giáo xứ trong sự ổn định và an b́nh. Ngày 02/6/2008 cha được TGM sai đến với đàn chiên của giáo xứ Thượng Phúc, Cam Châu và Xá Thị.

Ngày 22 tháng 5 năm 2008, Đức cha F.X. Nguyễn Văn Sang đă kư Văn thư Bổ nhiệm cha Giuse Lư Văn Thưởng, OP., làm chánh xứ Cát Đàm, nhiệm sở tại Chủng viện Mỹ Đức. Và trong một nghi thức đơn giản, không kèn không trống, không cờ không hoa, không chào đón không tiệc tùng, cha đă tuyên thệ nhậm chức cha sở giáo xứ ngày 2/6/2008. Tuy nhiên, việc trao quyền quản lư và mục vụ giáo xứ Cát Đàm cho Tỉnh ḍng Đa Minh Việt Nam đă được TGM Thái B́nh xúc tiến trong một thời gian đủ dài và với những lư do chính đáng. Sau khi trải qua nhiều cuộc họp bàn và những cân nhắc quan trọng hai bên đă đi đến kết luận cuối cùng bằng một Văn bản Hợp Đồng Trao và Nhận Giáo xứ Cát Đàm thuộc Giáo phận Thái B́nh gồm 11 điều liên hệ, kư kết ngày 19/10/2007, với thời hạn 50 năm. Đây là một sự kiện lớn đánh dấu sự trở lại chính thức của anh em Đa Minh tại vùng đất này sau hơn một nửa thế kỷ xa cách.

Từ khi cha Giuse về nhận giáo xứ ngài đă cố gắng vận động mọi thành phần dân Chúa chung tay góp sức để sửa sang Cung thánh, chống dột mái hiên Nhà thờ, xây dựng Linh đài Đức Mẹ La Vang, nhất là việc thúc đẩy ḷng sùng kính Đức Mẹ. Ngài đă tổ chức rước tượng Đức Mẹ đến từng gia đ́nh để cùng mọi người quây quần bên Đức Mẹ lần Chuỗi Mân Côi. Sau hơn một năm Tượng Đức Mẹ thánh du đă viếng thăm hết mọi gia đ́nh trong giáo xứ và nhiều người đă đón nhận được ơn lành của Đức Mẹ. Trong đó, phải kể đến việc nhận lại trụ sở của các cha Ḍng sau hơn 40 năm “lưu lạc”, đúng ngày 13 tháng 10 năm 2009 các cha và các thầy đă chính thức dọn về nhà của ḿnh, ngôi nhà mang nhiều dấu ấn lịch sử quan trọng này.

Tuy nhiên, giáo xứ Cát Đàm vẫn c̣n nhiều việc phải làm và chắc chắn một ḿnh cha xứ sẽ không thể hoàn thành được sứ mạng nếu không có sự chung sức, đồng ḷng của mọi thành phần trong và ngoài giáo xứ. Nguyện xin Thiên Chúa ban cho giáo xứ chúng con sự hiệp nhất để chúng con xây dựng một cộng đoàn liên đới đích thực trong t́nh yêu thương, nhờ lời chuyển cầu của thánh Vinh Sơn.

Những người con ưu tú gốc quê hương Cát Đàm:

1. Cha Đa Minh Dương Vĩnh Thi, sinh năm 1890, chịu chức linh mục năm 1924, coi sóc giáo xứ Kẻ Sặt Gp. Hải Pḥng. 1954 di cư vào Nam và coi sóc Đồn điền Cao Su Túc Trưng và qua đời tại đó 11/10/ 1966.

2. Cha Giuse Dương Vũ, sinh năm 1955, chịu chức linh mục 18/3/1999. Hiện đang coi sóc giáo xứ Tân Châu, Hạt Tân Sơn Nh́, Gp. Sài G̣n.

3. Cha Vinh Sơn Bùi Tuấn Hiếu, sinh năm 1971, chịu chức linh mục 29/6/2004. Hiện đang coi sóc giáo xứ Ông Chưởng, Gp. Long Xuyên.

Quách Dương Hà
Cát Đàm, ngày 10 tháng 03 năm 2011
Những ngày đầu Mùa Chay Thánh

Foonter:

1 Xc. Sử Kư Địa Phận Trung, Phú Nhai 1916, tr. 175.

2 Sau này trong một bản văn viết tay, tiếng Tây Ban Nha, phê chuẩn về việc thành lập Ḍng Ba Đa Minh, tại Cát Đàm, đề ngày 20/4/1939, cha Bề trên Phụ tỉnh J. Jiménez OP (cha Chính Nhân) có nhắc đến danh tính của Bà Chánh Quế. Chính thời điểm này họ Cát Trang vẫn c̣n được ghi nhận.

3 Xc. Lm. Phạm Châu Diên, Phép lạ Thánh Vinh Sơn, Tủ Sách Ra Khơi, Trung Chánh, 1970, tr. 46-65.

4 Xc. Văn Côi Tạp Chí, Năm I, Janvier 1938, số 4, Nam Định, tr. 120.

5 Xc. Ngô Vi Liễn, Nomenclature des communes du Tonkin (Danh mục các làng xă Bắc Kỳ), Hà Nội, 1928, tr. 63.

6 Xc. Văn Côi Tạp Chí, Năm IV, Novembre 1940, số 38, Nam Định, tr. 354.

 

...........................

Lược sử Giáo xứ Cát Đàm

Nguồn : Website Giáo Phân Thái B́nh

I - VỊ TRÍ

Cát Đàm nằm cách Ṭa giám mục khoảng 3 km về phía Tây Nam. Thời Đức cha Gioan Casado Thuận và Đức cha Santos Ubierna Ninh, Cát Đàm được chọn làm trụ sở cho các Bề Trên phụ tỉnh, quen gọi là trụ sở các cha chính ḍng Đaminh. Cát Đàm nằm ngay cạnh chủng viện Mỹ Đức; phía Đông Nam giáp xứ Sa Cát; phía Tây Nam giáp sông Trà Lư. Năm thành lập: 1940 Bổn mạng: Thánh Vinh sơn Số giáo dân khoảng 819 Linh mục chính xứ: Giuse Lư Văn Thưởng Op Địa chỉ: Nhà thờ Cát Đàm, xóm 8, xă Đông Ḥa, thành phố Thái B́nh, tỉnh Thái B́nh.

II - QUÁ TR̀NH H̀NH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN

Theo sử liệu, giáo xứ Cát Đàm đón nhận ánh sáng Tin Mừng vào khoảng đầu thế kỷ XVIII. Đến năm 1822, Cố Viên được cử về phụ trách họ giáo Cát Đàm và xây dựng một ngôi nhà nguyện nhỏ để làm nơi cầu nguyện sớm tối. Khi đó Cát Đàm c̣n gọi là Giáo họ Cát Trang thuộc xứ Sa Cát, nhận thánh Vinh sơn làm quan thầy.

Khoảng năm 1920, nhà thờ Cát Đàm được xây dựng lại thay thế cho nhà nguyện cũ và được đại tu vào khoảng năm 1970 - 1977.

Năm 1940, Đức cha Gioan Casado Thuận nâng Cát Đàm lên hàng giáo xứ và trao cho các cha ḍng Đaminh phụ trách. Trước năm 1954, số giáo dân của Cát Đàm là 350 người. Sau năm 1954, giáo xứ Cát Đàm chỉ c̣n 14 gia đ́nh với số nhân danh là 40 người.

Tháng 8.1973, Đức cha Đaminh Đinh Đức Trụ đă cắt họ giáo Cát Nội thuộc xứ Sa Cát để sát nhập vào giáo xứ Cát Đàm. Giáo họ Cát Nội thành được lập năm 1830, bổn mạng Lễ Truyền Tin, số giáo dân hiện nay là 413.

Năm 1996, cha xứ và giáo dân trong xứ đă cố gắng góp công, góp của xây dựng lại ngôi nhà thờ mới thay thế ngôi nhà thờ cũ. Tuy nhiên, v́ hoàn cảnh khó khăn nên hiện nay ngôi nhà thờ vẫn chưa hoàn thành (hai cây tháp c̣n dang dở).

Khi ḍng Đaminh chuyển trụ sở từ Bùi Chu sang Thái B́nh, giáo xứ Cát Đàm được các cha ḍng Đaminh coi sóc. Năm 1954, các cha Đaminh di cư vào Nam, cha Giuse Trần Trọng Hậu vừa làm giám đốc tiểu Chủng viện Mỹ Đức, vừa kiêm mục vụ Giáo xứ Cát Đàm. Từ năm 1960 – 2007, có Đức cha Giuse Đinh Bỉnh, Đức ông Giuse Bùi Văn Cẩm, cha Phanxicô Xaviê Ngô Văn Toan, cha Luca Nguyễn Văn Định coi sóc giáo xứ.

Ngày 19.10.2007, Đức Cha Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Sang đă kư văn bản trao quyền quản lư và mục vụ tại giáo xứ Cát Đàm cho tỉnh ḍng Đaminh Việt Nam với thời hạn 50 năm, đánh dấu sự hiện diện trở lại chính thức của anh em Đaminh tại vùng đất Cát Đàm, sau một nửa thế kỷ xa cách. Ngày 23.5.2008, Cha Giuse Lư Văn Thưởng Op được Bề trên Giám tỉnh và Đức Giám mục giáo phận bổ nhiệm làm cha chính xứ Cát Đàm

III - TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG

Giáo xứ Cát Đàm gồm có các đoàn hội: Huynh đoàn giáo dân Đaminh, hội thánh Giuse, hội Hiền mẫu, ban Kèn, Ca đoàn. Là một giáo xứ nhỏ bé, nên không có nhiều đoàn hội như các giáo xứ khác, nhưng các đoàn hội của giáo xứ có những mục đích tôn chỉ hoạt động khá phong phú. Nói chung, mỗi đoàn hội đều có những mục đích và tiêu chí riêng, nhưng tựu trung là tôn vinh Thiên Chúa và phục vụ lợi ích của con người.

Hàng năm vào dịp lễ Phục Sinh và Giáng Sinh, quư cha, quư thầy cùng với một số giáo dân tổ chức đi thăm viếng, giúp đỡ những bệnh nhân phong và những trẻ em bị bại năo trong khu vực.

Cha xứ và giáo dân đang cố gắng hoàn thành ngôi thánh đường và xây dựng nhà giáo lư. Ngoài ra, quư cha và quư thầy đang có dự định phổ cập tin học và ngoại ngữ cho các em trong khu vực lương cũng như giáo, đồng thời nhắm đào sâu giáo lư đức tin cho cộng đồng.

Nguồn : Website Giáo Phân Thái B́nh

................

Đọc thêm

ĐÔI D̉NG LƯỢC SỬ GIÁO XỨ CÁT ĐÀM

Giáo xứ Cát Đàm, trước đây là họ Cát Trang thuộc giáo xứ Sa Cát, nằm sát cạnh sông Trà Lư, cách TGM và Nhà thờ Chính ṭa chừng 3km về phía Đông-Bắc. Theo Sử Kư Địa Phận Trung, th́ từ năm 1722 đă có cha Viên coi sóc họ này.1 Như vậy dân làng Cát Trang đă được đón nhận ánh sáng Tin Mừng từ rất sớm và rất kiên trung giữ vững đức tin qua nhiều cuộc bách hại đẫm máu dưới những thời kỳ cấm đạo gay gắt của các vua chúa quan quyền xưa kia.

Đến năm 1892, dưới thời Cụ Lư Hinh và Cụ Chánh Quế,2 một ngôi nhà nguyện nhỏ năm gian bằng gỗ được xây dựng theo lối cổ để kính thánh Vinh Sơn (Vincente Ferre). Nơi đây rất nhiều người đă nhận được các ơn lạ Chúa ban nhờ lời chuyển cầu của thánh Vinh Sơn.3

Khi địa phận Thái B́nh được thành lập (9/3/1936), Đức Giám mục tiên khởi, Juan Casado Thuận OP, đă cho xây dựng nhiều cơ sở mới trong giáo phận. Một trong những công tŕnh phải kể đến đó là Chủng viện Thánh Thomas Mỹ Đức, nay là Chủng viện Thánh Tâm Mỹ Đức, khánh thành cuối tháng 8/1937. Nơi đây đă đón tiếp nhiều Đấng vị vọng trong Giáo hội. Ngày 13/11/1937 đón Đức Khâm sứ Ṭa thánh Son Ex. Mgr. A. Drapier, OP tới thăm và dâng lễ. Ngày 19/12/1937 đón Cha M. S. Gillet, OP., Bề trên Tổng quyền Ḍng Đaminh tới thăm nhân chuyến kinh lư vùng truyền giáo Đông Dương.4Ṭa nhà Chủng viện ba tầng đồ sộ này nằm trên phần đất nhà thờ họ Mỹ Đức trước kia. V́ thế, khi xây dựng Chủng viện th́ số giáo dân ít ỏi của họ Mỹ Đức được sáp nhập vào họ Cát Trang để thành một họ đạo mới lấy tên gọi của một đơn vị hành chính cấp Tổng của xă hội thời bấy giờ đó là : Tổng Cát Đàm thuộc Phủ Thái Ninh. Tổng Cát Đàm (gồm 15 xă): Bồ Xuyên Tả, Cầu Nghĩa, Cầu Nhân, Duy Tân, Hiệp Trung, Hưng Quan, Nam Thọ, Nghĩa Phương, Phương Cúc, Phương Đài, Sa Cát Lương, Sa Cát Giáo, Thượng Đạt, Trường Quan và Vinh Quan.5 Nhà thờ Cát Đàm ngày nay nằm trên phần địa lư hành chính thôn Nghĩa Phương, xă Đông Ḥa, tp. Thái B́nh.

Đầu năm 1938 cha Juan Jiménez (Nhân) OP., là cha Chính địa phận đồng thời là Bề trên các cha ḍng Đa Minh trong địa phận mới, đă cho xây một ngôi nhà ba tầng khá kiên cố, rộng 12 mét + dài 32 mét trên một khu đất rộng 10.000 mét vuông nằm bên cạnh phía nam nhà thờ Cát Đàm, để làm trụ sở cha Bề trên Phụ tỉnh của Tỉnh ḍng Nữ Vương Rất Thánh Mân Côi (Holy Rosary) tại Bắc Kỳ, quen gọi là sở cha chính ḍng.

Đầu năm 1940 họ Cát Đàm được Đức Giám mục tách ra khỏi xứ Sa Cát để trở thành một giáo xứ mới và thuộc quyền cha Bề trên ḍng coi sóc, với số nhân danh khoảng hơn 300. Tháng 2/1940 cha Chính Nhân xin nghỉ hưu và trở về quê hương (Tây Ban Nha) v́ tuổi cao sức yếu sau hàng chục năm miệt mà trên cánh đồng truyền giáo. Đến tháng 4/1940 cha Chính Antoni Silva (An), OP., từ địa phận Bắc Ninh được đổi về trị sở Cát Đàm làm bề trên ba địa phận ḍng đồng thời coi sóc giaùo xöù Caùt Ñaøm. Tháng 9/1940 cha Bề trên cho tu sửa gian cung thánh của ngôi nhà thờ này để có chỗ làm lễ cho rộng răi sáng sủa.6

Từ khi giáo xứ được thành lập, dưới sự chăn dắt của các nhà truyền giáo nhiệt thành, ḷng đạo đức của bà con giáo dân như được tiếp thêm một sức sống mới. Các hội đoàn dần dần được h́nh thành, mọi sinh hoạt của giáo xứ dần đi vào nề nếp và ổn định hơn. Các ngày lễ lớn, các tuần chầu hằng năm và các cuộc rước kiệu được tổ chức long trọng, nhất là trong Tuần Thánh và tháng Mân Côi.

Điều này đă được phần Tin Tức của Văn Côi Tạp Chí mô tả như sau : “... Trong tháng Văn-côi, tối nào cũng chầu Ḿnh Thánh cách trọng thể, lại sửa sang dọn chung quanh nhà thờ lấy đường để đi kiệu trong tháng Văn-côi và các ngày đầu tháng quanh năm. Bởi thế trong tháng Văn-côi năm nay giáo hữu trong họ sốt sắng sầm uất hơn mọi năm.

Lại hôm 5-10-40, cha bề trên có bắt đầu mở tuần cấm pḥng cho giáo-hữu để dọn ḿnh xưng tội chịu lễ để mừng lễ rất thánh Văn-côi cách trọn thể.

Sáng hôm chủ nhật là chính ngày lễ Văn-côi ; hồi 7 giờ sáng, bề trên ra nhà thờ làm lễ hát cách trọng thể, do hội nghĩa binh hát, cung đàn tiếng hát lên bổng xuống trầm giéo giắt êm đềm của các em nỏ nghĩa binh hát rất hay ; sau phúc âm, cha bề trên diễn thuyết một bài nói về phép lần hạt Văn-côi Đức Bà cách rất hùng hồn ; hôm đó các giáo hữu xưng tội chịu lễ hầu hết hễ là ai đă đi xem lễ th́ chịu lễ cả!

Khi lễ đoạn các giáo hữu đua nhau đến viếng nhà thánh rất đông suốt ngày. Hồi 5 giờ chiều có tổ chức cuộc rước kiệu Văn-côi Đức Bà. Các phần việc đă tề tựu sẵn sàng, các người chung quanh miền ấy kéo nhau đến xem đông lắm ; song bị giời mưa to không rước kiệu được, chỉ chầu Ḿnh Thánh trọng thể mà thôi ; ai nấy đều lấy làm tiếc v́ không được rước kiệu.

Cuộc lễ này đối với các nơi khác th́ cũng chẳng có ǵ là đáng kể cả, song đối với giáo hữu ở đấy th́ cũng là điều đáng khen ḷng nhiệt thành của Cha Bề trên và ḷng đạo đức các giáo hữu v́ số nhân danh có thế, mà sự xưng tội chịu lễ hằng ngày khá đông, là hễ ai đi xem lễ th́ cũng dọn ḿnh chịu lễ, c̣n người không chịu lễ th́ ít ; chịu lễ ngày thường hằng ngày cũng tới một trăm”.

Sự b́nh an hạnh phúc của đoàn chiên trong đời sống đức tin thật là văn vỏi! Khi Biến cố di cư 1954 xảy đến đă để lại nhiều mất mát và thương tổn. Ngày 30/6/1954 hơn 90% bà con giáo dân của giáo xứ bỏ lại nhà cửa, ruộng vườn và phần đất của tổ tiên để theo đoàn người di cư vào Nam. Từ đó hoàn cảnh của giáo xứ cũng trở nên tiêu điều và hoang tàn v́ chỉ c̣n lại 12 gia đ́nh trong 8 nóc nhà; gồm gia đ́nh (Cụ Trùm Châu, Cụ Thủ Tháp, Cụ Trùm Nghi, Cụ Két San, Cụ Trương Rư, Cụ Trương Tề, Cụ Trương Tửu, Cụ Trùm Tốn và Cụ Trùm Sơ, Cụ Trùm Nơm và Cụ Trương Cừ) vỏn vẹn 40 nhân danh. Số nhân danh ít ỏi cộng với những sự khó khăn của thời cuộc đă làm cho đời sống đạo của người giáo dân trong giáo xứ ngày càng trở nên cơ cực hơn. Nhưng chính những gian nan thử thách đó đă làm cho đời sống đức tin của người giáo dân ngày càng kiên cường hơn để “xưng đạo ra trước mặt thiên hạ”. Đúng như lời Thánh Gia-cô-bê Tông đồ dạy rằng : “Anh em hăy tự cho ḿnh là được chan chứa niềm vui khi gặp thử thách trăn chiều. V́ như anh em biết : đức tin có vượt qua thử thách mới sinh ra ḷng kiên nhẫn” (Gc 1,2-3).

Hằng ngày bà con giáo dân vẫn cứ trung thành với việc lần chuỗi Mân Côi sớm tối tại nhà thờ và tại tư gia, đó chính là sức mạnh tinh thần giúp giữ đạo vững vàng hơn để vượt qua những cơn sóng gió. Tuy nhiên, việc thiếu vắng các vị chủ chăn là một sự thiệt tḥi lớn cho các tín hữu trong thời kỳ đầy biến động này.

Ngày 16/7/1960 Đức cha Đa Minh Đinh Đức Trụ truyền chức linh mục cho bốn thầy: Giuse M. Đinh Bỉnh, Giuse M. Vũ Văn Vân, Gioakim Trần Trọng Uyên và Giuse M. Bùi Văn Cẩm. Khoảng tháng 9/1960 cha Giuse Vũ Văn Vân được bổ nhiệm coi sóc giáo xứ Cát Đàm cho đến tháng 1/1963. Sau đó cha được thuyên chuyển về giáo xứ Trung Đồng và ngài đă qua đời tại đây ngày 18/04/1990, hưởng thọ 96 tuổi.

Tháng 5/1963 cha Giuse Maria Đinh Bỉnh, làm chánh xứ Cát Đàm và Sa Cát, cùng với sự phụ giúp của cha Gioakim Trần Trọng Uyên. Cũng trong giai đoạn này cha Giuse phải lo điều hành Chủng viện Mỹ Đức, một thời kỳ đầy sóng gió.

Năm 1972 cha Giuse Đinh Bỉnh đă cho sửa chữa lại gian cung thánh và nối thêm ba gian cuối của nhà thờ Cát Đàm. Sau đó cha c̣n ở lại Chủng viện cho đến tháng 7/1977 th́ ngài trở về Ṭa Giám Mục để chuẩn bị cho một sứ vụ mới quan trọng hơn. Cuối năm 1979 Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đă chọn ngài làm Giám mục phó giáo phận Thái B́nh với quyền kế vị Đức cha Đa Minh và Thánh lễ tấn phong Giám mục được cử hành ngày 8/12/1979.

Tháng 7/1973 Cha Chính Giuse Maria Bùi Văn Cẩm được Bề trên Giáo phận bổ nhiệm làm cha xứ giáo xứ Cát Đàm. Ngay sau đó, tháng 8/1973 họ giáo Cát Nội được tách khỏi giáo xứ Sa Cát để sáp nhập vào giáo xứ Cát Đàm. Và đến ngày 15/11/1989, có 22 gia đ́nh với 92 nhân danh thuộc giáo họ Cát Nội được thuyên chuyển về họ nhà xứ để việc phụng vụ được thuận tiện. Tuy nhiên, sự thuyên chuyển này cũng đă gây lên một bầu không khí căng thẳng v́ sự lưu luyến với họ giáo mà xưa nay các gia đ́nh này gắn bó. Đến nỗi cha Chính đồng thời cũng là cha xứ sở tại, đă phải trăn trở nhiều : “Tùy ư các gia đ́nh, đóng góp họ trong hay họ ngoài. Đâu cũng cố giữ đạo cho ḿnh và cho con cháu”.[1] Nhưng nhờ ơn Chúa thương mọi sự dần đi vào ổn định và nề nếp. Dưới sự hướng dẫn tài t́nh của cha Chính, mọi thành phần của giáo xứ không phân biệt cũ mới đă chung tay góp sức, một ḷng một ư xây dựng nên một cộng đoàn đức tin sống động. Điều này được thể hiện rất rơ qua việc tổ chức các ngày lễ lớn, các Tuần chầu Thánh Thể thay mặt Giáo phận và việc xây dựng ngôi thánh đường mới hiện nay, tuy chưa hoàn thành nhưng cũng là một nỗ lực đầy cố gắng. Ngày 01/2/2003 cha Chính chuyển đi coi sóc giáo xứ Sa Cát sau 30 năm gắn bó với đàn chiên nhỏ bé Cát Đàm.

Ngày 17/3/2003 Cha F.X., Ngô Văn Toan được Đức Cha F.X Nguyễn Văn Sang bổ nhiệm làm chánh xứ Cát Đàm nhiệm sở tại Chủng viện Mỹ Đức. Vẫn tiếp nối đường hướng mục vụ của cha Chính Giuse, với tinh thần và nhiệt huyết của một linh mục trẻ Cha F.X., đă mang lại một bầu không khí năng động hơn cho giáo xứ. Cha đă dành nhiều thời gian và công sức cho việc huấn luyện các hội đoàn trong giáo xứ, nhất là giới trẻ. Bên cạnh đó, cha đă huy động bà con giáo dân chỉnh trang lại khuân viên nhà thờ giáo xứ và giáo họ ; làm đường kiệu, xây tường rào và trồng cây xanh tạo nên một quang cảnh đạt ba tiêu chuẩn “xanh, sạch, đẹp” mang lại nhiều lợi ích cho cộng đồng và xă hội. Bộ mặt của giáo xứ được thay đổi hằng ngày, nhưng thời gian cha gắn bó với cộng đoàn lại quá ngắn chỉ có 2 năm. Ngày 28/3/2005 Cha F.X., đă phải xa rời cộng đoàn để đảm nhận nhiệm vụ mới. Việc cha ra đi đă để lại cho cộng đoàn ít nhiều hụt hẫng v́ c̣n rất nhiều chương tŕnh với bao ưu tư trăn trở đành bỏ dở dang.

Nhưng “đến muôn đời Chúa vẫn trọn t́nh thương”, ngay ngày hôm sau 29/3/2005 cả cộng đoàn giáo xứ đă vui mừng đón cha xứ mới, Cha Luca Nguyễn Văn Định. Với tính t́nh trầm lặng và tâm hồn sâu sắc Cha Luca đă đề cao đời sống nội tâm hơn là những h́nh thức bên ngoài. Cha đă mời gọi sự đóng góp của bà con để tu bổ gian cung thánh và làm bàn thờ mới, một bàn thờ bằng đá to nhất giáo phận. Với thời gian hơn ba năm coi sóc, cha đă điều hành giáo xứ trong sự ổn định và an b́nh. Ngày 02/6/2008 cha được TGM sai đến với đàn chiên của giáo xứ Thượng Phúc, Cam Châu và Xá Thị.

Ngày 22 tháng 5 năm 2008, Đức cha F.X. Nguyễn Văn Sang đă kư Văn thư Bổ nhiệm cha Giuse Lư Văn Thưởng, OP., làm chánh xứ Cát Đàm, nhiệm sở tại Chủng viện Mỹ Đức. Và trong một nghi thức đơn giản, không kèn không trống, không cờ không hoa, không chào đón không tiệc tùng, cha đă tuyên thệ nhậm chức cha sở giáo xứ ngày 2/6/2008. Tuy nhiên, việc trao quyền quản lư và mục vụ giáo xứ Cát Đàm cho Tỉnh ḍng Đa Minh Việt Nam đă được TGM Thái B́nh xúc tiến trong một thời gian đủ dài và với những lư do chính đáng. Sau khi trải qua nhiều cuộc họp bàn và những cân nhắc quan trọng hai bên đă đi đến kết luận cuối cùng bằng một Văn bản Hợp Đồng Trao và Nhận Giáo xứ Cát Đàm thuộc Giáo phận Thái B́nh gồm 11 điều liên hệ, kư kết ngày 19/10/2007, với thời hạn 50 năm. Đây là một sự kiện lớn đánh dấu sự trở lại chính thức của anh em Đa Minh tại vùng đất này sau hơn một nửa thế kỷ xa cách.

Từ khi cha Giuse về nhận giáo xứ ngài đă cố gắng vận động mọi thành phần dân Chúa chung tay góp sức để sửa sang Cung thánh, chống dột mái hiên Nhà thờ, xây dựng Linh đài Đức Mẹ La Vang, nhất là việc thúc đẩy ḷng sùng kính Đức Mẹ. Ngài đă tổ chức rước tượng Đức Mẹ đến từng gia đ́nh để cùng mọi người quây quần bên Đức Mẹ lần Chuỗi Mân Côi. Sau hơn một năm Tượng Đức Mẹ thánh du đă viếng thăm hết mọi gia đ́nh trong giáo xứ và nhiều người đă đón nhận được ơn lành của Đức Mẹ. Trong đó, phải kể đến việc nhận lại trụ sở của các cha Ḍng sau hơn 40 năm “lưu lạc”, đúng ngày 13 tháng 10 năm 2009 các cha và các thầy đă chính thức dọn về nhà của ḿnh, ngôi nhà mang nhiều dấu ấn lịch sử quan trọng này.

Tuy nhiên, giáo xứ Cát Đàm vẫn c̣n nhiều việc phải làm và chắc chắn một ḿnh cha xứ sẽ không thể hoàn thành được sứ mạng nếu không có sự chung sức, đồng ḷng của mọi thành phần trong và ngoài giáo xứ. Nguyện xin Thiên Chúa ban cho giáo xứ chúng con sự hiệp nhất để chúng con xây dựng một cộng đoàn liên đới đích thực trong t́nh yêu thương, nhờ lời chuyển cầu của thánh Vinh Sơn.

Những người con ưu tú gốc quê hương Cát Đàm:

1. Cha Đa Minh Dương Vĩnh Thi, sinh năm 1890, chịu chức linh mục năm 1924, coi sóc giáo xứ Kẻ Sặt Gp. Hải Pḥng. 1954 di cư vào Nam và coi sóc Đồn điền Cao Su Túc Trưng và qua đời tại đó 11/10/ 1966.

2. Cha Giuse Dương Vũ, sinh năm 1955, chịu chức linh mục 18/3/1999. Hiện đang coi sóc giáo xứ Tân Châu, Hạt Tân Sơn Nh́, Gp. Sài G̣n.

3. Cha Vinh Sơn Bùi Tuấn Hiếu, sinh năm 1971, chịu chức linh mục 29/6/2004. Hiện đang coi sóc giáo xứ Ông Chưởng, Gp. Long Xuyên.

Quách Dương Hà

Cát Đàm, ngày 10 tháng 03 năm 2011

Những ngày đầu Mùa Chay Thánh

Foonter:

1 Xc. Sử Kư Địa Phận Trung, Phú Nhai 1916, tr. 175.

2 Sau này trong một bản văn viết tay, tiếng Tây Ban Nha, phê chuẩn về việc thành lập Ḍng Ba Đa Minh, tại Cát Đàm, đề ngày 20/4/1939, cha Bề trên Phụ tỉnh J. Jiménez OP (cha Chính Nhân) có nhắc đến danh tính của Bà Chánh Quế. Chính thời điểm này họ Cát Trang vẫn c̣n được ghi nhận.

3 Xc. Lm. Phạm Châu Diên, Phép lạ Thánh Vinh Sơn, Tủ Sách Ra Khơi, Trung Chánh, 1970, tr. 46-65.

4 Xc. Văn Côi Tạp Chí, Năm I, Janvier 1938, số 4, Nam Định, tr. 120.

5 Xc. Ngô Vi Liễn, Nomenclature des communes du Tonkin (Danh mục các làng xă Bắc Kỳ), Hà Nội, 1928, tr. 63.

6 Xc. Văn Côi Tạp Chí, Năm IV, Novembre 1940, số 38, Nam Định, tr. 354.

Nguồn : Website Giáo Phân Thái B́nh

 


H́nh ảnh nhà thờ Giáo xứ Cát Đàm