Giáo Phận Thái B́nh

Nhà thờ Giáo Xứ Nam Lỗ

 

Nhà thờ Giáo xứ Nam Lỗ
Giáo hạt Đông Hưng

 

Địa chỉ :      Hợp Tiến, Đông Hưng, Thái B́nh   ( Bản đồ )

Chánh xứ : Linh mục Phêrô Ch. Trần Duy Điển (9/2014)

Tel

  036 550653

E-mail

  giaoxunamlo@gmail.com

Website   http://www.gxnamlo.org  -  FB

Năm thành lập

1908

Quan Thầy

Đức Mẹ Mân Côi

Số giáo dân

1429    (9/2014)

Giờ lễ

Chúa nhật     : 15;30

Ngày thường : 19:00

Các nhà thờ lân cận : Gx Mỹ Đ́nh, Gx Thuần Túy, Gx An Lập, Gx Tràng Quan, Gx Duyên Tục, Gh Hoàng Nông, Gh Lác Trại, Gh An Thái, Gh Cổ Khúc (Khuốc) - Gh  Lác Làng - Gh Ngói  -  Gh Phạm, Gh Sổ Làng, Gh Tăng, - Gh Y Đún

Tư liệu :  Lược sử Giáo xứ - H́nh ảnh Giáo xứ 
                Kỷ Yếu Giáo xứ Nam Lỗ
                Xem thêm : Tư liệu Giáo xứ Nam Lỗ

- Links liên quan :

* Thánh lễ ban Bí tích Thêm sức tại Nhà thờ Giáo xứ Nam Lỗ (27/9/2015) - H́nh ảnh
* H́nh ảnh Đức Cha Phêrô kinh lư Gx Nam Lỗ (31/7/2014)
* Đức Giám Mục Giáo phận về thăm mục vụ và ban Bí tích Thêm Sức (27/10/2013)
* Giáo xứ Nam Lỗ mừng kỷ niệm ngôi Thánh Đường 100 tuổi (1911-2011)
* Lễ Kỷ Niệm Bách Chu Niên Thành Lập GX Nam Lỗ,
* Bế mạc Tuần Đại Phúc tại giáo xứ Nam Lỗ, Thái B́nh
* Tuần đại phúc tại giáo xứ Nam Lỗ sửa soạn cho biến cố mừng 100 năm
 

 

Lược sử Giáo xứ Nam Lỗ

Đôi Ḍng Lịch Sử về GX Nam Lỗ

KỶ NIỆM BÁCH CHU NIÊN THÀNH LẬP GIÁO XỨ NAM LỖ 1908 – 2008

Nhà Thờ GX Nam Lỗ

Giáo xứ Nam Lỗ gồm 13 ngôi nhà thờ lớn nhỏ, nằm trên phần đất của 6 xă thuộc huyện Đông Hưng và 1 xă thuộc huyện Hưng Hà, tỉnh Thái B́nh.

Nhà thờ chính của giáo xứ tọa lạc giữa một làng dân cư nhỏ bé, yên tĩnh trên một cánh đồng lúa mênh mông. Khúc sông Tiên Hưng uốn ḿnh bao bọc lấy ngôi làng thân thương này. Đây là ngôi nhà thờ mẹ, nơi quy tụ của cộng đoàn giáo xứ và được gọi với cái tên thật dễ thương: Nam Lỗ.

Nhà thờ Nam Lỗ cách TP Thái B́nh khoảng 20 Km về phía Bắc; trên quốc lộ 39A đường Thái B́nh đi Hưng Yên, từ cột mốc Km70 đi vào chừng 5 cây số.

I - MẤY D̉NG LƯỢC SỬ

Nhà thờ Nam Lỗ tọa lạc trên phần đất của trại Đồng My hay c̣n gọi là Đồng Mư, thuộc làng Sổ, tổng Cao Mỗ, huyện Thần Khê, tỉnh Thái B́nh. V́ thế, người ta thường gọi xứ Nam Lỗ là xứ Sổ và Nhà thờ xứ Nam Lỗ là Nhà thờ Đồng My hay Đồng Mư.

Năm 1722, họ giáo trại Đồng Mư, Làng Sổ được thành lập, với tên gọi Họ giáo Sổ, thuộc về xứ Sa Cát. Sau 186 năm thăng trầm, họ giáo Sổ đă được nâng lên hàng Giáo xứ và cùng với các họ lân cận thành một giáo xứ mới. Các Đấng Bản quyền đă đặt tên xứ mới này là xứ Nam Lỗ.

Theo tài liệu nghiên cứu của Cha Giuse Nguyễn Thanh Liêm th́: Nam Lỗ là tên rất đặc biệt mà Đức Cha Pierre Munagorri Y Obenita, tên Việt Nam của Ngài là Trung (Đức Cha Pierre Munagorri Y Obenita Trung, gốc Người Tây Ban Nha), cai quản Giáo Phận Bùi Chu từ Nam 1907 đến 1936 đă chọn. (Chú thích: Nam 1908, lúc bấy giờ Giáo Xứ Nam Lỗ c̣n đang trực thuộc vào Giáo Phận Bùi Chu. Ngày 09 Tháng 3 Năm 1936, Giáo Phận Thái B́nh mới được thành lập và tách rời khỏi Giáo Phận Bùi Chu. Đức Cha Casado Thuận là Giám Mục tiên khởi của Thái B́nh).

Cha Pierre Munagorri Y Obenita, khi c̣n là Linh Mục và c̣n trẻ được Nhà Ḍng gửi sang Á Châu truyền giáo, trên đường từ Tây Ban Nha đi đến Việt Nam, Cha Pierre Munagorri Y Obenita đă có dịp đến Nước Tàu (tức Trung Quốc ngày nay) vài tháng. Sau đó đến Việt Nam để thực thi sứ mạng truyền giáo và làm việc mục vụ, Ngài đă lấy tên Việt Nam là Trung.

Năm 1907, Cha Pierre Munagorri Y Obenita Trung được Toà Thánh đề cử lên làm Gám Mục và đặt Ngài cai quản Giáo Phận Bùi Chu (kế vị Đức Cha Maxime Fernandez Định, 1987-1907). Đức Cha Trung duyệt xét lại phần địa dư và phạm vi mục vụ của toàn Giáo Phận th́ thấy Sa Cát là một giáo xứ lớn, và có quá nhiều giáo họ lẻ, trong đó có giáo họ lẻ tại Làng Sổ nằm trên mảnh đất Đồng My có đông giáo dân hơn cả và nhiều họ lẻ nhỏ khác chung quanh - Ngài đă quyết định tách biệt Giáo Họ Sổ và những họ lẻ ấy ra thành một Giáo Xứ mới l?y tên là Nam L?.

Đức Cha Trung đích thân đến viếng thăm và nghiên cứu về giáo họ lẻ Làng Sổ và các họ lẻ lân cận này trong 3 ngày. Thời bấy giờ, không có xe ô tô, Đức Cha và Phái Đoàn Pḥng Bộ phải đi xa cả ngày đường từ Bi Chu và đến Làng Sổ th́ trời vừa tối. Ngài lưu lại đó 1 ngày và 2 đêm. (Chuyến đi trong 3 ngày, gồm 1 ngày đi, rồi ở lại Làng Sổ 2 đêm và 1 ngày, và 1 ngày đi bộ trở về Bùi Chu). Qua 2 đêm, sau các bữa cơm tối, Ngài đi dạo ṿng quanh bên ngoài để cầu nguyện. Đức Cha Trung chiêm ngắm bầu trời đẹp với muôn ngàn tinh tú, trăng sao, nhất là nh́n lên Chùm Sao Bắc Đẩu, rồi Ngài nhớ lại lịch sử truyền giáo của Nước Tàu, trong đó có phần đất của Nước Lỗ (cũ) mà Cha Mettéo Ricci, Ḍng Tên, xưa kia đă đặt chân đến truyền giáo rất thành công.

Đứng bên bờ sông Tiên Hưng, nơi mảnh đất của làng Kinh Môn (Cửa Đền Vua Nước Trời), hướng lên Chùm Sao Bắc Đẩu -Ngài nh́n về phía Bắc là Nước Lỗ, Ngài cũng nh́n về Làng Sổ có phần đất Đồng My đang nằm ở phía Nam, nên trong ư định của Ngài - Ngài đă quyết định đặt tên Giáo Xứ mới này là GIÁO XỨ NAM LỖ (tức là phía Nam của Nước Lỗ). Như vậy, chúng ta đă có tên lịch sử của Giáo Xứ Nam Lỗ là phần đất truyền giáo mới, phía Nam của Nước Lỗ. (Theo Lm. Joseph Nguyễn Thanh Liêm, chuyển ngữ sang Tiếng Việt từ Sách “Histoire du Vietnam” của Delliviers, Un mandarin catholique de 32ans, Trang 263, Quyển IV, reputé pour sa parfaile intégrité, sa compétence et son intelligence, Số kiểm duyệt: 0.00.599708.9. Giấy phép xuất bản số: 0.225.66350.3, Tái xuất bản tại Rome, 25-3-1945, Sách đang được lưu giữ trong Thư Viện Madrid Libreria –Spain).

Năm 1955, do sự phân chia lại địa lư hành chính, trại Đồng My và trại Đồng Cừ tách khỏi Làng Sổ (Xă Chương Dương) và sát nhập vào Xă Hợp Tiến (Làng Ngói). Đồng My ngày nay là Thôn Ai Quốc, Xă Hợp Tiến, Huyện Đông Hưng, Tỉnh Thái B́nh.

Đại Lễ Kỷ Niệm 100 năm

II - HẠT GIỐNG TIN MỪNG

Hạt giống Tin Mừng đă được gieo vào mảnh đất này khá sớm. Theo sử liệu, năm 1722 nơi đây đă thành một họ đạo, Họ Sổ thuộc xứ Sa Cát. Rồi Tin Mừng lan tỏa theo thời gian, các họ đạo xung quanh dần dần được h́nh thành.

Năm 1908, cùng với sự trưởng thành của các giáo họ chung quanh th́ Giáo Họ Sổ là lớn nhất và đă đủ để bước lên hàng giáo xứ. Đức Cha Trung đă tách 17 họ lẻ khỏi Giáo Xứ Sa Cát và thành lập nên Giáo Xứ Nam Lỗ, đồng thời đặt Cha Phêrô Trứ làm Cha Xứ tiên khởi.

Theo sử kư Địa phận Trung xuất bản năm 1916 (gồm Bùi Chu và Thái B́nh ngày nay) th́ giáo xứ Nam Lỗ có 17 họ lẻ: 10 họ bổn đạo gốc và 7 họ bổn đạo mới, với tổng số 1197 giáo dân.

Sau đây là đoạn trích nguyên văn về giáo xứ Nam Lỗ năm 1916:

XỨ NAM LỖ

Xứ này trước thuộc về xứ Sa Cát, Đức Cha Trung mới biệt ra từ năm 1908.
Thầy cả coi sóc xứ th́ trước có cụ Trứ, rồi đến cụ Thiêm đang coi sóc bây giờ.
Xứ này gồm lại 10 họ Bổn đạo gốc và 7 họ Bổn đạo mới, các họ ấy về 13 xă.

Các họ về xứ này:

Tên họ Quan thầy Nhân danh

Nam Lỗ Đức bà Rosa 521
Duyên Tục Ông thánh Augustin 186
Kinh Môn Ông thánh Phêrô 135
An Lạc Làng Đức Bà lên 3 tuổi 235
Lũ Đăng Đức Bà chuộc kẻ làm tôi 81
Cổ Khúc Đức Bà Bảy Sự 115
Duyên Trang Ông thánh Phanxicô 120
An Lạc Trại Ông thánh Vincentê 154
Cổ Cốc Ông thánh Tômasô 61
Họ Phạm Ông thánh Gioachim 38
Sổ Làng Bổn đạo mới 54
Thổ Khối Bổn đạo mới 30
An Thái Bổn đạo mới 33
Phú Điền Bổn đạo mới 10
Lộ Xá Bổn đạo mới 08
Hoàng Nông Bổn đạo mới 08
Kim Ngọc Bổn đạo mới 11

Cộng 1197

Các ông ḍng bà ḍng về xứ này được 84 người.

Năm 1929, Đức cha Trung đă nâng họ Duyên Tục lên hàng Giáo xứ, và cắt họ Duyên Trang về xứ mới này.
Năm 1930, họ giáo Y Đún được thành lập, và nhân thánh Têrêsa Hài Đồng Jêsu làm bổn mạng.
Năm 1948, Đền Đức Mẹ Fatima được xây dựng tại Khu Sốc thuộc họ Nhà xứ.

Biến cố năm 1954, một phần lớn giáo dân của xứ di cư vào miền Nam. Số giáo dân c̣n lại thưa thớt, lại gặp những năm tháng chiến tranh và khó khăn, một vài họ bị xóa sổ.

Sau năm 1975, một số giáo dân v́ kế sinh nhai, lại tiếp tục vào các tỉnh phía Nam để sinh sống, giáo xứ lại bớt đi một số người.

Năm 1978, ngôi nhà thờ họ Kinh Môn bị tháo dỡ. Nay chỉ c̣n một khu đất nền nhà thờ trước đây làm vết tích. Số diện tích xung quanh nhà thờ của họ giáo này đă bị san ủi thành ruộng cấy.

III - CÁC LINH MỤC COI SÓC GIÁO XỨ

Từ ngày thành lập giáo xứ, Nam lỗ luôn được các cha trông coi phục vụ. Khi th́ trực tiếp, lúc th́ gián tiếp. Bao ân t́nh sâu nặng, bao kỷ niệm êm đềm, bao thành quả vật chất và tinh thần mà các Ngài để lại.

Hôm nay nh́n lại, từ ngày ấy,100 năm qua đă có 12 linh mục coi sóc xứ này:

1. Từ năm 1908 đến 1914: cha Phêrô Trứ, cha xứ tiên khởi. Người xây dựng ngôi thánh đường giáo xứ.

2. Từ năm 1915 đến 1928: cha Phêrô Thiêm coi sóc.

3. Từ năm 1929 đến 1935: cha Thôma Vũ Nguyên Sùng.

4. Từ năm 1936 đến 1945: cha già Giuse Khuông coi sóc.

5. Từ 10-1945 đến 8-1954: cha Giuse Phạm Hữu Đoàn coi sóc.

Sau khi cha Đoàn vào Nam, giáo xứ trống vắng. Đức cố giám mục Đaminh Đinh Đức Trụ bấy giờ là Giám quản giáo phận, gián tiếp trông coi giáo xứ, với sự cộng tác của cha già Sùng. Từ đây giáo xứ không c̣n cha xứ trực tiếp trông nom.

6. Từ 11-1955 đến 10-1960: cha Vinhsơn Nguyễn Khắc Hiếu, cha xứ An Lập, phụ trách.

7. Từ 11-1960 đến 5-1973: cha Gioachim Trần Trọng Uyên từ chủng viện Mỹ Đức, phụ trách.

8. Từ 5-1973 đến 5-1978: cha Gioan B. Phạm Ngọc Châu cũng từ Mỹ Đức, phụ trách.

9. Từ 5-1978 đến 4-1996: cha chính Giuse Bùi Văn Cẩm từ Mỹ Đức, phụ trách.

10. Từ 4-1996 đến 6-2001: cha Giuse Trần Đức Hạnh chánh xứ Thuần túy, phụ trách.

11. Từ 6-2001 đến 7-2002: cha Phêrô Nguyễn Kiêm Toàn, chánh xứ An Lập, phụ trách.

12. Ngày 12-7-2002, cha Đaminh Nguyễn Văn Quát, cha xứ đương nhiệm đă về phục vụ giáo xứ. Chấm dứt khoảng thời gian 48 năm trống vắng, không có cha xứ trực tiếp ở với giáo xứ.

Như vậy, 100 năm từ ngày lập xứ, th́ một nửa thời gian không có cha xứ trực tiếp ở giáo xứ. Đó lại là một thời kỳ có nhiều khó khăn phức tạp. Nên giáo xứ chịu nhiều thiệt tḥi mất mát.

IV - NHỮNG TRANG SỬ HÀO HÙNG

Trải qua bao thăng trầm của lịch sử, những người con của Nam Lỗ vẫn giữ được hào khí của cha ông.

Quả vậy, ngay sau khi đón nhận hạt giống Tin mừng, các bậc tiền nhân của cộng đoàn này đă làm trổ sinh hoa trái. Các cộng đoàn phát triển. Các nhà giáo, nhà nguyện, nhà thờ lần lượt mọc lên. Đời sống Đức Tin vững mạnh. Nơi đây cũng là quê hương của biết bao anh hùng tử đạo, những người đă đổ máu đào, hiến dâng mạng sống v́ Đức Tin. Bẩy phần mộ của các ngài ở họ Khuốc, 13 bộ hài cốt có kèm thẻ ở họ Tăng là những bằng chứng. Riêng tại phần đất khu vực thánh đường Nam Lỗ c̣n có hài cốt của một số vị tử đạo có danh tánh mà hồ sơ của các Ngài hiện đang được lưu giữ tại Bộ Phong Thánh ở Rôma chờ ngày cứu xét để phong Chân Phước.

Theo tra cứu của Cha cố Sơn th́:

Trong số 1264 hồ sơ các vị Tử đạo Việt nam tại Bộ Phong Thánh Rôma sẽ được cứu xét, có 5 vị sinh quán tại giáo xứ Nam Lỗ, giáo phận Thái B́nh, miền Bắc Việt Nam:

1. Ông Vincentê Quỳnh 70 tuổi, người cha có 2 con tử đạo. (hồ sơ số 834)
2. Ông Phêrô Quân, con cả ông Quỳnh (hồ sơ số 800)
3. Ông Đaminh Đệ, con thứ. (hồ sơ số 252)
4. Thầy Đaminh Chiêu, Thầy giảng. (hồ sơ số 176)

5. Ông Phêrô Đán 50 tuổi, có gia đ́nh (hồ sơ số 219)

Tất cả các vị đă có đầy đủ hồ sơ cần thiết, xin sốt sắng cầu cho các Ngài chóng được phong lên chân phước (Á thánh). (Trích thư của Cha quư hương, cố Lm. Polycarpo Trần Thái Sơn, CMC)

Đó mới chỉ là 5 vị trong số 14 Hiền phúc Tử Đạo của Nam Lỗ đă được công nhận là chết v́ Đạo và đang thỉnh cầu phong Chân phước. Theo cuốn VƯỜN VẠN TUẾ THÁI B̀NH ( tủ sách Họ Hoàng Bồ Ngọc xuất bản năm 2006), Nam Lỗ có các vị Tử đạo sau đây:

1 - Hiền phúc Linh Mục Vinh Sơn TRÍ, họ Nhà Xứ.
2 - Hiền phúc Thầy giảng Đaminh CHIÊU, họ Nhà Xứ
3 - Hiền phúc Vinh Sơn QUỲNH, họ Nhà Xứ,
4 - Hiền phúc Đaminh ĐỆ, họ Nhà Xứ,
5 - Hiền phúc Phêrô QUÂN, họ Nhà Xứ,
6 - Hiền phúc Phêrô ĐÁN, họ Nhà Xứ,
7 - Hiền phúc Phêrô THỊNH, họ Tăng.
8 - Hiền phúc Phêrô MÂY, họ Tăng.
9 - Hiền phúc Đaminh DI, họ Tăng.
10 - Hiền phúc Đa minh NGHIÊM, họ Tăng.
11 - Hiền phúc Đaminh HUỆ, họ Tăng.
12.- Hiền phúc Đaminh PHƯƠNG, họ Tăng.
13 - Hiền phúc Đaminh KHANG, họ Khuốc
14 - Hiền phúc Đaminh HIẾN, họ Cốc

Rước GX Nam Lỗ

Thừa hưởng gia tài Đức tin của tiền nhân, những người con Nam Lỗ các thế hệ luôn phát huy truyền thống hào hùng của cha ông. Quả vậy, ngay sau khi đạo được b́nh an, với số giáo dân không nhiều, phương tiện thô sơ, mọi sự tự lực, thế mà các nhà thờ lớn nhỏ được mọc lên. Trước nhỏ rồi sau to. Trước đơn sơ rạ lá, rồi sau cột gỗ tường xây, cứ thế tiến lên.

Kể từ ngày lập xứ (1908) với số giáo dân toàn xứ có hơn một ngh́n người, thế mà các nhà thờ mới trong xứ liên tiếp được xây dựng:

Năm 1911, họ nhà xứ với số giáo dân chưa được 500 người đă hoàn thành ngôi thánh đường to đẹp và vững chắc mà chúng ta đang thừa hưởng đây.

Cùng năm ấy, họ Cốc với số dân khoảng 50 người cũng đă khánh thành ngôi nhà thờ mà nay vẫn c̣n giữ được một phần di sản quư giá đó.

Năm 1912, họ Khuốc với khoảng 100 nhân danh cũng xây dựng ngôi nhà thờ và năm 1932 được tái thiết. Nhà thờ này đă bị hoả hoạn thiêu rụi năm 1960, duy ngọn tháp đến hôm nay vẫn c̣n đang vươn thẳng.

Năm 1914, họ Phạm với hơn 30 nhân danh cũng đă xây dựng ngôi thánh đường mà ngày nay vẫn c̣n chắc chắn.

Cùng năm đó, họ Sổ Làng với khoảng 50 nhân danh cũng xây dựng nhà thờ, và nay c̣n giữ lại một phần các v́ kèo gỗ khi xây dựng lại ngôi thánh đường mới năm 1998.

Năm 1916, với 232 nhân danh, họ đàn anh Lác Làng xây dựng ngôi nhà thờ gỗ kiên cố chẳng thua kém ǵ nhà xứ, nay vẫn c̣n vững chắc.

Họ Kinh Môn với 135 nhân danh khi lập xứ cũng xây dựng được ngôi nhà thờ gỗ to đẹp và bị tháo dỡ năm 1978, nay ai cũng hối tiếc.

Năm 1944 họ bổn đạo mới An Thái xây dựng ngôi thánh đường khang trang, c̣n tới ngày nay.

Năm 1948 họ nhà xứ lập Đền Đức Mẹ tại khu Sốc.

Các họ khác cũng gắng công xây dựng nhà thờ tùy sức của ḿnh. Tuy nhiên, v́ hoàn cảnh thời cuộc và thời tiết các nhà thờ này đă phải tái thiết nhiều lần, một vài nhà thờ bị xóa sổ. Đó là 3 họ Lộ Xá, Phú Điền và Kim Ngọc.

V - TRANG SỬ MỚI

Sau biến cố năm 1954, số giáo dân c̣n lại quá ít ỏi, thời thế không thuận lợi, thời tiết nhiều khi khắc nghiệt, gây nhiều khó khăn cho những người con dân trong xứ.

Tuy khó khăn nhưng những người con Nam Lỗ tại quê hương vẫn giữ được truyền thống cha ông, sống đạo, bảo toàn đức tin, bảo tồn những di sản tinh thần, vật chất của tổ tiên để lại. Cho dù có một vài họ bị mất mát đất đai trong nơi thờ tự nhưng nh́n chung vẫn giữ được tương đối vẹn toàn. Được như vậy là nhờ sự hy sinh quên ḿnh và ḷng nhiệt thành của con dân trong xứ.

Một điều rất đáng tự hào là suốt 48 năm (1954 – 2002) Giáo xứ không có Cha xứ ở trực tiếp, nhưng đời sống đức tin vẫn tốt, mọi sinh hoạt vẫn diễn tiến đều đặn. Các nhà thờ vẫn được bảo dưỡng, tu sửa. Một vài nhà thờ nhỏ của các họ cũng như các công tŕnh nhỏ khác vẫn được xây dựng. Những thành quả đó nhờ sự hỗ trợ của các đấng bậc coi sóc giáo xứ, nhưng cũng là sự hy sinh không mệt mỏi của dân xứ, nhất là trong những thời điểm khó khăn.

Rước trong Khuôn Viên Nhà Thờ

VI - NAM LỖ HÔM NAY

Nh́n lại 100 năm từ khi lập xứ th́ 46 năm Nam Lỗ có Cha xứ ở trực tiếp (1908 - 1954). Tiếp đó là 48 năm nhà xứ trống vắng (1954 – 2002), và sáu năm trở lại đây, nhờ ơn Chúa lại có cha xứ.

Sáu năm qua, giáo xứ được phục sức nhanh chóng. Mọi người cố gắng, bà con đồng hương, anh em xa gần giúp đỡ nên bộ mặt giáo xứ đă có được như ngày hôm nay. Tuy vậy, kết quả vẫn c̣n quá khiêm tốn và công việc phải làm c̣n rất nhiều, từ nhà xứ đến các họ.

Hiện tại Nam Lỗ có 1377 nhân danh, 13 nóc nhà thờ, gồm họ nhà xứ, 11 họ lẻ và Đền Đức Mẹ thuộc nhà xứ. Con số thực tế của các họ như sau:

 

TT

Tên họ

Quan thầy

Nhân danh

1

Nhà xứ

Đức Bà Rosa

590

2

Lác làng

Đức Mẹ dâng ḿnh trong Đền thờ

155

3

Lác trại

Thánh Vincentê

154

4

An thái

Thánh Giuse công nhân

165

5

Khuốc

Đức Mẹ Bảy sự

94

6

Sổ làng

Thánh Gioan Baotixita

84

7

Tăng

Đức Mẹ Vô nhiễm

36

8

Cốc

Thánh Thômasô tiến sỹ

21

9

Phạm

Thánh Gioankim

8

10

Ngói

Th.  Phêrô Nguyễn Bá Tuần Tử đạo

33

11

Hoàng nông

Thánh Giuse bầu cử (19-3)

7

12

Y đún

Thánh Têrêxa Hài đồng Giêsu

30

 

Tổng Cộng

 

1377

 

Giáo xứ luôn có:

- Hội Đồng Mục Vụ giáo xứ và Ban trùm các họ: đây là những người ṇng cốt, hy sinh phục vụ trong các cộng đoàn. Một số phải gánh vác trách nhiệm lâu dài (v́ không có người thay thế) và đă trải qua nhiều khó khăn phức tạp.

- Hội gia trưởng với trên 100 thành viên

- Hội con Đức Mẹ cũng xấp xỉ 100 thành viên.

- Huynh đoàn giáo dân Đa Minh với gần 200 đoàn viên mà tiền thân là “các ông ḍng bà ḍng”. Đây là nhóm người ṇng cốt của việc cầu nguyện trong các cộng đoàn.

- Thêm vào đó c̣n có hội Tân ṭng, quy tụ hơn 70 anh chị em tân ṭng trong cả xứ.

- Giáo xứ vẫn duy tŕ được đội kèn, đội trống, tuy có nhiều khó khăn về tài chánh và nhân sự.

- Giới trẻ của giáo xứ cũng phát triển về nhiều mặt:

Việc học giáo lư vẫn duy tŕ thường xuyên, đều đặn. Mỗi Chúa nhật trước thánh lễ ban chiều, 7 lớp học với trên 200 học sinh trong toàn xứ. Nhiều cháu ở các họ xa phải đạp xe 7- 8 km, lại c̣n phải qua đ̣ qua sông. Rất vất vả.

Học văn hóa mỗi ngày một nâng cao, số học sinh theo học cấp III ngày một tăng. Toàn giáo xứ có trên 20 em vào Đại học, Cao đẳng và Trung cấp chuyên nghiệp, trong đó một số đă thành đạt và có công ăn việc làm tốt.

Rước qua các làng và Đồng Quê

VII - DẤN THÂN PHỤC VỤ

Phát huy truyền thống của tiền nhân trong đời sống đức tin, những người con Nam Lỗ dấn bước theo Chúa lên đường phục vụ tha nhân trong đời sống tu tŕ, và luôn có mặt trong các giai đoạn.

Chúng ta c̣n ghi lại được nhờ sử liệu, th́ ngay buổi đầu Nam Lỗ đă có một Linh mục và một Thầy giảng tử đạo: cha Vinh-Sơn Trí, thầy Đaminh Chiêu.

Những thế hệ kế tiếp, rất tiếc chúng ta không có sử liệu để xác định. Nhưng gần đây Nam Lỗ đă có một số đóng góp đáng kể cho Giáo Hội:

A. Có 10 Linh mục và 1 Phó tế, đó là:

1. Cha Đaminh Bùi Duy Hưng, họ Khuốc, qua đời tại trại Thanh Hoá.

2. Cha Cố Polycarpo Maria Trần Thái Sơn (họ Nhà xứ), ḍng Đồng Công, qua đời tại hoa Kỳ ngày 20-6-2003.

3. Cha Tôma Trần Thiên Định (Lác Làng), đang phục vụ tại Hoa Kỳ.

4. Cha Giuse Nguyễn Thanh Liêm (An Thái), đang phục vụ tại Úc.

5. Cha Giuse Trần Duy Kim (Lác Làng), đang phục vụ tại Hoa Kỳ.

6. Cha Vincentê Phạm Ngọc Anh Tuấn (họ Phạm), đang phục vụ tại Giáo phận Xuân Lộc.

7. Cha Vincentê Nguyễn Xuân Tuấn, (Nhà xứ), giáo phận Phú Cường, đang du học tại Roma.

8. Cha Giuse Nguyễn Văn Nhật, (Kinh Môn), đang phục vụ tại Giáo phận Mỹ Tho.

9. Cha Vincentê Trần Thanh Thoả, (quê ngoại Nam Lỗ) đang phục vụ tại giáo phận Long Xuyên.

10. Cha Đaminh Bùi Ngọc Hải, (quê ngoại Nam Lỗ), cha xứ Vơng Phan, giáo phận Thái B́nh.

11. Phó tế Đaminh Vũ Công Khương (Nam Lỗ), Tu viện Lời Chúa, Phú Cường.

B. Tu sĩ :

* Có các thầy:

1. Thầy FX Đặng Văn Hậu, (sổ Làng), Ḍng Đồng Công. Qua đời năm 1974.

2. Thầy Gioan. Baotixita Bùi Quang Tâm, (Sổ Làng), đang phục vụ tại giáo phận Mỹ Tho.

3. Thầy Đaminh Trần Ngọc Nam, (Lác Làng), Ḍng Bệnh Viện Thánh Gioan Thiên Chúa.

4. Thầy Vincentê Trần Trung Bảo (Lác Làng), Ḍng Ngôi Lời, Hoa Kỳ.

5. Tu Sinh Đaminh Nguyễn Đức Trụ (Họ An Thái), đang tu học tại Úc trong Ḍng Truyền Giáo Thánh Tâm (Missions of Sacred Heart’s Congregation).

• Các nữ tu:

1. D́ Maria Đặng Thị Kính (Sổ Làng, em Thầy Hậu), qua đời 1953.

2. D́ Maria Trần Thị Nhường, (Sổ Làng), Ḍng nữ Đaminh Thánh Tâm, qua đời năm 2005

3. D́ Têrêsa Trần Thị Tuyết Trinh, (Nhà xứ), Ḍng nữ Đaminh Thánh Tâm, Hố nai

4. D́ M.Têrêsa Trần Thị Hiền, (Nhà xứ), Ḍng nữ Đaminh Thánh Tâm, Hố nai.

5. D́ Têrêsa M.Trần Thị Hải, (Nhà xứ), Ḍng nữ Đaminh Thánh Tâm, Hố nai.

6. D́ Cêcilia Nguyễn Thị Thanh Thuỷ, (An Thái), Ḍng Đức Mẹ Từ Bi, (Congregation of the Sisters of Mercy), đang phục vụ tại Africa, Phi châu.

7. D́ Mary Vũ Thuỳ Linh, (An Thái), Ḍng Trinh Vương Việt Nam tại Úc, đang phục vụ tại Sydney.

8. D́ Maria Phạm Thị Hiên, (Lác trại), MTG Tân Lập, đang phục vụ tại Thái B́nh.

9. D́ Maria Đặng Thị Nụ, (Lác làng), MTG Tân Lập, đang phục vụ tại Thái B́nh.

10. D́ Maria Phạm Thị Dung, (Nhà xứ), MTG Tân Lập.

11. D́ Maria Nguyễn Thị Thu Hảo, (Kinh Môn), Ḍng Chúa Quan Pḥng, Cần Thơ.

Ngoài ra c̣n một số ứng sinh chủng viện và đê tử các ḍng tu nam nữ gốc Nam lỗ tại quê hương cũng như hải ngoại.

Chúng ta cầu nguyện cho ơn gọi tu tŕ của giáo xứ ngày thêm phát triển để có thêm nhiều người con Nam Lỗ đóng góp trong cánh đồng truyền giáo của Giáo Hội.

VIII - HƯỚNG TỚI TƯƠNG LAI

Điều đáng quan tâm là ngày nay hoàn cảnh cuộc sống xă hội chi phối, các thế hệ trẻ của giáo xứ phải xa xứ nhiều. Những phức tạp đến với họ, và những khó khăn cho người ở nhà là không nhỏ. Đời sống đạo đức nói chung bị đe dọa, xuống cấp.

Một số nhà thờ trong giáo xứ đă cao niên, cần phải tu sửa hoặc tái thiết. Hạ tầng cơ sở cũng như trang thiết bị trong nhà thờ của các họ c̣n thô sơ và một số họ kể như chưa có ǵ. Trong khi số dân quá ít ỏi lại không có khả năng nhiều trong lănh vực kinh tế cũng như xă hội.

Trước thực tế đó, định hướng của giáo xứ là tăng cường việc giáo dục Đức Tin cho giới trẻ qua việc học hỏi Giáo lư, tích cực tham gia các sinh hoạt tôn giáo. Đồng thời đẩy mạnh việc học văn hóa. Mặt khác, cổ vũ các việc đạo đức cho các giới. Kể cả những việc đạo đức b́nh dân. Đặc biệt hướng tới việc bác ái xă hội để góp phần loan báo Tin Mừng.

Công việc nhiều, ước mơ lớn. Nhưng khả năng rất giới hạn. Ước mong được lời cầu nguyện, sự chỉ bảo và giúp đỡ của các đấng bậc cũng như mọi người thân yêu để với truyền thống hào hùng của cha ông, những người con của Nam Lỗ hôm nay quyết vươn lên vượt qua trở ngại để luôn sống tốt đạo đẹp đời, góp phần xây dựng Hội thánh và Quê hương.

 

CÁC HIỀN PHÚC TỬ ĐẠO NAM LỖ

(Trích từ VƯỜN VẠN TUẾ THÁI B̀NH)

GIÁO XỨ NAM LỖ

Nam lỗ cũng gọi là Sổ, trước đây thuộc tổng Cao Mỗ, phủ Tiên Hưng, tỉnh Thái B́nh. Ngày nay Nam Lỗ thuộc xă Hợp Tiến, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái B́nh.

Nam Lỗ được các thừa sai Đaminh từ Sa Cát đến truyền giáo vào đầu thế kỷ thứ 18, rồi trở thành một họ lẻ thuộc xứ Sa Cát, nhận Đức Mẹ Mân Côi là Quan Thầy.

Năm 1908, Đức Cha Phêrô Trung (Pierre Munagorri y Obineta) chia xứ Sa Cát thành ba xứ, xứ Nam Lỗ được thành lập, gồm 10 họ lẻ bổn đạo gốc và 7 họ giáo tân ṭng. Cha xứ đầu tiên là linh mục Phêrô Trứ, chịu chức năm 1891. khi cha Trứ đổi về Tiên Chu th́ cha Phêrô Thiêm, chịu chức năm 1897, về coi sóc.

Thời kỳ bắt đạo, tín hữu Nam Lỗ vẫn trung kiên giữ đức tin. Vùng Nam Lỗ thời đó có hai nơi giam giữ các tù đạo là Thổ Khối và Trinh Nguyên, nhiều vị tử đạo bị xử tại hai nơi ấy. Nhờ gương sáng các tù đạo, người Thổ Khối đă xin ṭng giáo, trở thành một họ lẻ ( họ Ngói) của giáo xứ bây giờ.

Nam Lỗ cũng có nhiều tín hữu hy sinh mạng sống để minh chứng đạo Chúa, trong số đó có 14 Hiền Phúc đă được Hội Thánh công nhận là chết v́ đạo Chúa, đă có hồ sơ làm án xin phong Chân Phúc. Các ngài là những nghành lá thắm tươi trong vườn vạn tuế Thái B́nh.

1.- Hiền phúc Linh Mục Vinh Sơn TRÍ (505)

Xứ Nam Lỗ (Sổ), Thái B́nh.

Hiền phúc Linh Mục Vinh Sơn Trí, Ḍng Đaminh, người Nam Lỗ(Sổ), tỉnh Thái B́nh, 61 tuổi, con ông Cố Sen. Từ nhỏ đă vào Nhà Chúa, chịu chức Linh Mục và khấn ḍng năm 1830. cha coi xứ Quần Cống, phải trốn ẩn nhiều thời gian. Sau khi thánh An Khảm và các vị tử đạo Quần Cống bị bắt, quân lính càng ráo riết tầm nă cha. Sau cùng, ngày 1-3-1859, Cha bị bắt giải nộp cho tổng đốc Nam Định, Cha liền bị bỏ tù. Trong tù Cha viết thư cho Đức Cha thánh Vinh vui mừng tỏ ư muốn phúc tử đạo. Quan đ̣i Cha ra toà, bắt khoá quá, cha hết sức sốt sắng hôn tượng Thánh Gía đặt dưới đất và trang trọng giảng thuyết về đạo Chúa. V́ thế tổng đốc Hưng tức giận nói với Cha: “tao có quyền xử tử mày, không cần đợi sắc chỉ của Vua”. Những quan khác th́ cần sắc chỉ ấy, nhưng Thượng Hưng Nguyễn Đ́nh Tân v́ là nhạc phụ Vua Tự Đức ( ông có con gái được tuyển vào cung, phong đến bậc Châu phi), nên tự tiện lên án các vị tử đạo. Cha bị trảm quyết tại Nam Định ngày 24-3-1859.

2.- Hiền phúc Thầy giảng Đaminh CHIÊU (506)

Xứ Nam Lỗ (Sổ), Thái B́nh.

Hiền phúc Thầy giảng Đaminh Chiêu, người Nam Lỗ, hơn 20 tuổi, con ông Diên hay Duyên, hiền lành đạo đức và rất nết na. Thầy giúp việc Cha Gioan An, cho tới ngày cả hai bị bắt ở Bái Bồ Trang cùng với hai Thầy giảng khác là Lăng và Tựu, bị giải lên Hưng Yên và chịu giam cầm. Thầy mạnh mẽ xưng đạo ra trước mặt các quan. V́ thế phải lên án xử tử. Ba Thầy bị trảm quyết đầu năm 1862.

3- Hiền phúc Vinh Sơn QUỲNH (518)

xứ Nam Lỗ, Thái B́nh.

Hiền phúc Vinh Sơn Quỳnh, người Nam Lỗ, gần 70 tuổi, con ông Khiết. Hiền phúc Quỳnh là cha của hiền phúc Quân và Đệ sẽ nói sau. Hiền phúc là trùm họ đạo, là nông dân, rất sốt sắng giữ đạo. Năm 1859. ông bị bắt v́ là chức dịch trong họ đạo, bị giải lên Hưng Yên, bị giam tù cùng với Hiền phúc Đán (số522). Ơ đấy hai năm hay hơn, ông phải chịu vô số h́nh khổ, nhất là v́ già cả nên càng đau đớn. Nhưng ông luôn vui tươi, năng sốt săng đọc kinh Văn Côi với Hiền phúc Đán bạn tù, vững vàng xưng đức tin ra luôn luôn. Không bao giờ ông chịu khoá quá, mặc dầu bị quan quân xui giục ráo riết và lôi mạnh qua Thánh giá. V́ thế ông chịu trảm quyết ngày 31-5-1861.

4- Hiền phúc Đaminh ĐỆ (519)

Xứ Nam Lỗ, Thái B́nh.

Hiền phúc Đaminh Đệ, người Nam Lỗ, Thái B́nh, con của Hiền phúc Quỳnh. Ông hơn 20 tuổi, nhưng không muốn lập gia đ́nh, để có thể cùng với các học tṛ Nhà Chúa học hành chữ nghĩa, cùng với họ, ông năng đi nhà thờ, ông cùng với anh là Phêrô Quân (số 520) bị bắt và bị giam ở ngục Hưng Yên.

Những người biết ông đều hết sức ca tụng ông, v́ ông rất can đảm chịu đ̣n vọt và những khổ h́nh khác, do ông không chịu khoá quá. Ông chịu trảm quyết năm 1861.

5 - Hiền phúc Phêrô QUÂN (520)

Xứ Nam Lỗ, Thái B́nh.

Hiền phúc Phêrô Quân, người Nam Lỗ, chừng 40 tuổi, là con của Hiền phúc Quỳnh ( số 518) và là anh của Hiền phúc Đệ ( số 519). Ông bị bắt cùng với em ḿnh, nhưng khi bị giải lên phủ, v́ quân lính phủ hành hạ ông quá lẽ nên ông ngất đi ở dọc đường, quan phủ bắt lính vác ông lên mà đưa qua Thánh giá, sau đó cười nhạo ông là thằng dại mà tha về. Sau ít lâu, ông phủ ấy chết, ông kế quyền thấy tên ông trong sổ, nên truyền bắt ông mà đầy lên các làng Phú La và Bông Cói, tỉnh Hưng Yên. Bấy giờ Hiền phúc đă lành mạnh, nên lại bị giục khoá quá. Ông không chịu, nên phải chịu nhiều h́nh khổ khác, mà vẫn luôn vững vàng. V́ thế ông phải trảm quyết ở Hưng Yên, có lẽ cùng với em Đệ của ông.

6 - Hiền phúc Phêrô ĐÁN (522)

xứ Nam Lỗ, Thái B́nh.

Hiền phúc Phêrô Đán người Nam Lỗ, trên 50 tuổi, con ông Hiền, đă có vợ con. Ông bị bắt v́ là một hương chức trong làng. Ông phải giải lên phủ Tiên Hưng, rồi sang Hưng Yên mà chịu giam cầm. Trong tù ông năng xưng tội với một Linh Mục cũng bị giam ở đó. Ít là hai lần ông bị đánh đ̣n rất dữ v́ không chịu khoá quá. Và v́ thế mà chịu trảm quyết ở Hưng Yên, không t́m thấy thi hài ông.

7- Hiền phúc Phêrô THỊNH (513)

Lũ Đăng, xứ Nam Lỗ.

Hiền phúc Phêrô Thịnh, người họ Lũ Đăng, xứ Nam Lỗ, con ông Trí và là anh của Hiền phúc Phêrô Mây (số 514), hai anh em cùng bị bắt với bốn người làng v́ đi đạo, bị đầy lên làng Bông và Suôi tỉnh Hưng Yên chín tháng. Hai tháng đầu, ḷng các vị hơi bối rối, nhưng về sau lấy lại được sự b́nh an, các vị càng ngày càng tỏ ra tinh tường, lớn tiếng đọc kinh với nhau, không c̣n sợ sệt ǵ ai nữa, nhưng sẵn sàng chịu chết v́ đạo. Hiền phúc Thịnh là thanh niên tốt, bị bắt cùng với cha mẹ và anh chị em, nhưng phải đi đày với em và bốn người khác như đă nói trên. Ông hoàn toàn noi gương các bạn ḿnh, nên vui vẻ chịu chém cùng với Hiền phúc Di (số 523) ở làng Suôi, vào chính ngày bốn bạn kia chịu chém ở làng Bông.

8 - Hiền phúc Phêrô MÂY (514)

Lũ Đăng, xứ Nam Lỗ.

Hiền phúc Phêrô Mây, người Lũ Đăng, xứ Nam Lỗ, con ông Trí và là em Hiền phúc Thịnh (số 513). Ong là thanh niên c̣n độc thân, làm ruộng, có những tư chất tốt. Ông bị bắt cùng với cả gia đ́nh cũng như anh Thịnh, nhưng trốn thoát được. Sau bị bắt lại, người ta truyền ông khoá quá, ông hoàn toàn không chịu. V́ thế ông phải đeo gông rất lớn, đầy lên hàng Bông, nơi cha mẹ ông đang bị cầm giữ, v́ ông nói với quan huyện là ḿnh muốn đi theo cha mẹ. Bị giam ở đó chín tháng mà vẫn vững vàng, nên ông bị án trảm quyết v́ cùng một duyên cớ như anh ông và các bạn tử đạo khác. (xem thêm số 513).

9.- Hiền phúc Đaminh DI (523)

Lũ Đăng, Xứ Nam Lỗ.

Hiền phúc Đaminh Di, người Lũ Đăng, xứ Nam Lỗ. Ông rất khiêm nhu, ăn ở hiền lành, không làm hại ai, là nông dân, đă có vợ và một con gái. Ông bị bắt v́ đạo với ông Thịnh (số 513), cùng với nhiều người khác sẽ nói sau. Cùng với các vị ấy, ông đă luôn hăng hái vững vàng xưng đạo ra, nên ông phải chịu nhiều h́nh khổ. Nhưng các ông không cùng bị hành xử với nhau. Hiền phúc Di bị trảm quyết với Hiền phúc Thịnh tại làng Suôi (xem số 513).

10.- Hiền phúc Đaminh NGHIÊM (524)

Lũ Đăng, xứ Nam Lỗ.

Hiền phúc Đaminh Nghiêm, người họ Lũ Đăng, xứ Nam Lỗ, c̣n trẻ, mới 16 tuổi, con ông Uẩn. Tính cậu tốt lành, hiền hoà, cong đang đi học. Cậu cũng là bạn tử đạo với ông Thịnh nói trên, chịu nhiều khổ h́nh như nhau và vẫn vững bền xưng đạo. Nhưng cậu bị giết ở làng Bông ( các điều khác như ở số 513).

11.- Hiền phúc Đaminh HUỆ (528)

Lũ Đăng, xứ Nam Lỗ.

Hiền phúc Đaminh Huệ, người Lũ Đăng, xứ Nam Lỗ, con ông Thoan, là thanh niên c̣n độc thân. Ông là bạn tử đạo với ông Thịnh (số 513), nhưng bị trảm quyết tại làng Bông với ông Nghiêm (số 524) và ông Phương (số 529). Các điều khác nói ở số 513.

12.- Hiền phúc Đaminh PHƯƠNG(529)

Lũ Đăng, xứ Nam Lỗ.

Hiền phúc Đaminh Phương, người Lũ Đăng, không biết tên cha mẹ và niên tuế, nhưng biết rằng ông là thanh niên làm ruộng, c̣n độc thân, không mắc tiếng xấu ǵ, ông là bạn tù đạo với ông Thịnh, nhưng lại rất dũng cảm chịu trảm quyết v́ đức tin với ông Huệ tại làng Bông ( các điều kiện khác như ở số 518).

13- Hiền phúc Đaminh KHANG (527)

Cổ Khúc, xứ Nam Lỗ.

Hiền phúc Đaminh Khang, người Cổ Khúc, xứ Nam Lỗ, con ông Thịnh. Cậu là học tṛ Nhà Chúa, v́ bệnh phải về gia đ́nh uống thuốc mà bị bắt v́ đức tin tại nhà. Cha cậu là Thịnh, anh cậu là Sĩ và chính cậu bị đầy lên làng Bông Cói. Ơ đây cha con cậu luôn đọc kinh cầu nguyện và đan thúng đan rá. Vợ ông Sĩ đem thúng rá ấy ra chợ bán, lấy tiền nuôi ba cha con suốt mười tháng như vậy. Các nhân chứng không nói ǵ hơn nữa về các hiền phúc Thịnh và Sĩ. Nhưng về hiền phúc Khang th́ họ quả quyết rằng: cậu học sinh Nhà Chúa đó luôn vững vàng trong đức tin, sốt sắng khuyến khích các kitô hữu bị giam ở đấy hăy vững ḷng giữ đạo cho đến chết. Mặt khác c̣n được biết rằng: hiền phuíc Khang khi đứng trước mặt viên quan tên Riễn, nổi tiếng độc ác, nhận được tin phải chết v́ đạo, hiền phúc đă rất vui mừng và sốt sắng dọn ḿnh chịu chết. V́ không chịu khoá quá nên hiền phúc Khang phải trảm quyết năm 1862 tại Lang Lô, làng Thanh Cù.

14.- Hiền phúc Đaminh HIẾN (530)

Cổ Cốc, xứ Nam Lỗ.

Hiền phúc Đaminh Hiến, người Cổ Cốc, xứ Nam Lỗ, con ông Tri, 18 tuổi, c̣n độc thân, ngoan ngoăn, hiền lành. Theo lệnh viên quan tri phủ Riễn rất độc ác, tất cả giáo hữu ít oi ở Cổ Cốc đều bị bắt, trong đó có cậu Hiến. Các vị bị đưa đến làng Quán Dâu, sau sang làng Thanh Cầm, xứ Ngọc Đồng, Hưng Yên. Xem ra cư dân ở đây là kitô hữu kín đáo, v́ họ đối xử với những kitô hữu bị giam ở đây rất nhân đạo. Mặt khác, các tín hữu bị lưu đày của làng Cổ Cốc không bị đưa ra toà nào, nhưng chỉ do lệnh vua mà phải giết nếu c̣n trong tù. Cậu Hiến và người cùng làng bị đem đi xử với rất nhiều người khác trong trường hợp như sau:

Thượng Hưng từ Nam Định và các viên quan khác đến nơi gọi là Rồng Chầu ( Long Triều chăng?), truyền đem tất cả các kitô hữu bị giam ở các nơi lân cận đến. Các kitô hữu biết ḿnh bị đem đi xử, nên vui mừng hát kinh cầu các thánh và đọc nhiều kinh khác mà đi, người làng lấy làm lạ lắm. Thế rồi không một án quyết, những con chiên hiền lành ấy, con số tới hơn hai trăm người, theo lệnh Thượng Hưng, bị gươm chém tất cả ở Rồng Chầu, ngày 2-6-1862.

Hiền phúc Hiến v́ tỏ ra sốt sắng hơn mọi người nên giơ cổ ra trước nhất. Chứng nhân Khoan kể lại rằng: chính hiền phúc đă quỳ xuống hai ba lần để chịu chém, nhưng lư h́nh bảo: “thằng này gầy nhom và c̣n nhỏ, chạy đi, chúng tao không muốn giết mày”.. Khi đă thảm sát hết hơn hai trăm người, lính tráng đào những huyệt lớn, xô lẫn lộn thi hài các vị xuống mà chôn tập thể. Ông Khoan là chứng nhân mục kích đă nói như vậy.

 

Đội Trắc GX Nam Lỗ

Kính thưa Quư vị,

Trên đây là mấy ḍng phác thảo, mạo muội tŕnh bày đôi nét về giáo xứ Nam Lỗ, nhân dịp BÁCH CHU NIÊN THÀNH LẬP GIÁO XỨ. V́ khả năng giới hạn, tư liệu thiếu và nói chung mọi mặt hạn chế, nên chắc chắn c̣n nhiều khiếm khuyết. Kính xin Quư đấng bậc, quư vị cao minh, cao niên đồng hương hiểu biết nhiều về Nam lỗ, vui ḷng chỉ giáo, bổ sung và góp thêm bài vở để cuốn KỶ YẾU của Giáo xứ được thêm hoàn thiện và phong phú.

Rất mong có những bài Hồi Kư về các cộng đoàn giáo họ trong toàn xứ, để các thế hệ trẻ biết thêm về các bậc tiền nhân của ḿnh.

Nhà thờ Nam Lỗ, Hợp tiến, Đông Hưng, Thái B́nh, Việt nam

Xin chân thành cám ơn và xin Thiên Chúa trả công bội hâu cho ḷng quảng đại và những hy sinh của qúy vị.

Nam lỗ, Xuân Mậu Tư - 2008

NHÓM BIÊN SOẠN

=================================================

Lịch Sử Giáo Họ An Thái

Giáo Xứ Nam Lỗ

 

Sông Tiên Hưng

Nằm trên triền sông Tiên Hưng, và bờ bên kia là Nhà xứ Nam Lỗ, làng An Thái trải dài như cùng con sông uốn ḿnh bao quanh nhà thờ xứ. Trong ngôi làng an b́nh và thư thái này có một họ đạo và một ngôi nhà thờ rất nên thơ. Nhà thờ họ An Thái.

Làng An Thái thuộc tổng An Lạc, huyện Tiên Hưng, tỉnh Thái B́nh. Nay là thôn An Thái, xă Mê Linh, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái B́nh.

Hạt giống Tin Mừng mới được gieo vào nơi đây và trổ sinh rất tốt đẹp. Cuối Thế kỷ 19, mới có một gia đ́nh công giáọ, gia đ́nh cụ Đaminh Trần Văn Thứ (cụ Hậu Thứ), cụ bà là Maria Nguyễn Thị Đang, với hai người con trai là cụ Lang Khiêm và cụ Chánh Lễ. Các cụ làm nghề lang thuốc, cứu chữa được nhiều ngườị. Vả lại các cụ là người phúc đức, nên được dân làng mến chuộng. Cụ bà lại rửa tội được nhiều trẻ em và người lớn hấp hốị. Một số sau này b́nh phục đă theo Đạọ, ít lâu sau lại có gia đ́nh cụ Đaminh Bội và Đaminh Nghĩa từ Tịnh Xuyên đến định cư. Tiếp đó lại có một số gia đ́nh các cụ khác nữa tới đâỵ. Đó là các cụ phó Tằng, cụ trùm Trinh, cụ trùm Chi, cụ Dựa, cụ Nhị, cụ cán Viêng, cụ cai Tề, cụ Hảo, cụ Thử và cụ Chuyên v.v…

Theo sử kư địa phận Trung xuất bản năm 1916, th́ năm 1908 nơi đây đă h́nh thành một họ giáo tân ṭng, họ An Thái thuộc về xứ Nam Lỗ. Cụ Hậu Thứ làm trùm và ngôi nhà thờ nhỏ bằng gỗ được dựng lên, trên mảnh đất diện tích 5 sào, do gia đ́nh cụ tiến cúng. Nhà thờ này kính thánh Đaminh.

Năm 1916, họ tân ṭng An Thái có 33 nhân danh. Cộng đoàn phát triển tốt đẹp. Sau cụ Hậu Thứ, đến các cụ trùm Thử, cụ trùm Khiêm, cụ trùm Nhung, cụ trùm Lễ, cụ trùm Trinh, cụ trùm Chi, cụ trùm Linh, cụ trùm Khoát, cụ trùm Huyên, cụ trùm Nghị…

Năm 1944, dân họ đă lên tới 45 gia đ́nh và gần 200 nhân danh. Ngôi nhà thờ đă trở nên chật hẹp.

Với sự giúp đỡ của gia đ́nh và con cái của cụ Hậu Thứ, ngôi nhà thờ mới được xây dựng. Ngôi nhà thờ cũ được bán cho Ninh Cường, Bùi Chụ và mua nếp nhà thờ mới của Sâm Bồ ở Hải Pḥng. Các cụ kể lại: Nhà thờ Sâm Bồ đang xây dựng th́ người Nhật bắt phá, để xây dựng sân bay Cát Bi.

Khi xây dựng nhà thờ An Thái, th́ gặp nạn đóị Họ giáo gặp khó khăn. Dân làng cũng như dân họ giáo chết đói và phiêu bạt đến 1/3. Thợ làm phải ăn cháo, thật là gian truân. Lúc đó cụ trùm Linh làm trùm họ và ngôi nhà thờ mới này đă nhận Ông Thánh Giuse Công Nhân làm bổn mạng.

Nhà thờ vừa xây xong th́ gặp nạn vỡ đê Hà Xá (1945), nước ngập hết móng, nhà thờ bị ngâm nhiều ngày nước mới rút. Tiếp đó, Nhật đảo chính Pháp. Người Nhật đă đưa muối đem vào để trong nhà thờ An Thái cũng như nhà thờ Khuốc. Thời điểm này cụ trùm Khoát đương nhiệm. Cụ Huyên làm chánh kiểm hàng xứ. Cụ Huyên đă mạnh dạn ra can thiệp với người Nhật, đề nghị họ để muối xa chân tường và chân cột. Họ chấp nhận. Tuy vậy muối vẫn làm hư hại lớn đến công tŕnh nhà thờ. Ảnh hưởng của nó vẫn kéo dài cho đến ngày hôm naỵ, tường vẫn bị muối phá huỷ, áo bị rữa, mặc dù đă sửa chữa nhiều lần. Thêm vào đó, do sự rung chuyển của bom đạn thời chiến tranh, tường bị nứt, kèo bị giăn. Độ đứng của tường đă bị ră ra ngoài ở hai gian cuối tới vài chục phân mét.

Đ̣ Ngang Sông Tiên Hưng

Năm 1954, biến cố di cư vào Nam. Cụ trùm Nghị đương nhiệm và giáo dân họ giáo ra đi quá đông. Chỉ c̣n lại 17 gia đ́nh, với 85 nhân khẩu. Ông quản Lịch lên làm trùm chánh, ông Đức làm trùm phó.

Tuy chỉ c̣n ít người, nhưng trong họ vẫn duy tŕ sinh hoạt kinh sách hàng ngày và ǵn giữ nguyên vẹn ngôi thánh đường cũng như 5 gian Nhà pḥng, cho dù có gặp khắc nghiệt của thời tiết và nhiều khó khăn khác.

Năm 1958-1959, lát gạch nền nhà thờ và xây sân khấu cuối nhà thờ.

Năm 1963, các v́ cuốn trong nhà thờ bị giăn, cha già Uyên và Đức cha Trụ cho họ giáo 6 cây sắt phi 30 để khoá giằng các đầu cột lạị, lúc đó cụ Tạo làm trùm họ.

Năm 1968, nhà thờ bị sập cột và đổ hai gian đầụ, lại gặp chiến tranh bắn phá miền Bắc, Ông trùm Nghiên đương chức bị bệnh nặng và qua đờị. Giáo dân phải chuyển tượng ảnh và đọc kinh dưới nhà pḥng suốt 2 năm trờị. Cụ Lâm lên làm trùm và phải 2 năm sau mới sửa lại được 2 gian đầu nhà thờ.

Một điều cũng lấy làm lạ, là khi giáo dân đang đọc kinh cầu nguyện trong nhà thờ khá đông, th́ những miếng chắp mê bằng gỗ nặng hàng tạ, từ trên đầu cột rớt xuống mà không trúng vào ai.

Năm 1978, ông trùm Trắc đương nhiệm, th́ trong họ lại có 4 hộ với 17 khẩu bỏ làng đi kinh tế mới ở Đắc Lắc. Cụ Tạo lại tiếp tục làm trùm. Thời điểm này có chính sách quy hoặch dân cư. Một số gia đ́nh xung quanh nhà thờ phải chuyển qua đê bên bờ sông. Các Miếu, Đ́nh cũng phải chuyển hết đi nơi khác. Nhà nước đưa một đội máy ủi, máy gạt về san phẳng khu vực này thành ruộng cấỵ. Riêng ngôi nhà thờ th́ khi máy ủi vào ủi sát chân móng tường và đưa đất xuống lấp ao nhà thờ, đến đường ủi thứ hai th́ máy đi quá đà nên chúc đầu xuống ao, không thể nào lùi lên được và bị chết máỵ Nhân cơ hội đó, cụ Tạo đă đề nghị với lănh đạo của đội máy về việc san ủi như vậy sẽ đổ mất nhà thờ. Họ trả lời là chỉ làm theo lệnh cấp trên, ông lên tỉnh mà hỏị. Cụ Tạo đă lên ngay huyện Đông Hưng gặp Công an và Mặt Trận huyện. Các vị trả lời, ông cứ về, đề nghị của ông chúng tôi sẽ điện về ngaỵ. Khi cụ Tạo về đến nhà thờ th́ mọi sự đă được yên ổn. Vài ngày sau, đội máy cho chiếc máy khác đến kéo chiếc máy chết lên. Nhưng không phải kéo, chiếc máy ủi lại nổ máy và tự lùi lên được. Từ đấy đến nay khu vực thánh đường được ổn định. Riêng có ruộng ở ngoài đồng th́ bị xung công mất 2 sào ở bờ La và 1 sào ở bờ sông gọi là Vườn Vải Ông Thánh.

Năm 1983, nhà thờ bị giột nát nhiều và hư hỏng nặng. Cha chính Cẩm và Đức cha Bỉnh đă giúp họ giáo, đảo lại toàn bộ mái ngói nhà thờ.

Năm 1984-1989 ông Cường làm trùm, đă cho đảo mái ngói Nhà pḥng.

Đầu năm 1990, ông Hiện làm trùm. Họ giáo gặp khó khăn. Vốn quỹ không c̣n ǵ. Trong khi nhà thờ lại hư hỏng nặng: Mối xông toàn bộ hoành rui, không có khả năng đứng vững được nữạ. Dân họ ra công làm gạch, ngói để sửa nhà thờ. Với sự giúp đỡ của cha chính Cẩm và Đức cha Phanxicô, họ giáo đốt được 5 vạn gạch và 2 vạn ngói, mua được 5 khối rưỡi gỗ lim. Nhờ vậy đă thay sửa được hoành rui hư hỏng và đảo lại được mái ngói.

Năm 1991, xây hai bờ tường bao khuôn viên nhà thờ.

Năm 1992 làm thêm 7 vạn gạch và năm 1993 xây 800m2 sân xung quanh nhà thờ cùng với dậu xung quanh sân.

Năm 1994, mua được quả chuông Tây nặng 180 Kg. Thời điểm này họ giáo có 31 gia đ́nh và 131 nhân danh. Lúc này họ giáo hàng tuần thường xuyên có Thánh lễ.

Năm 1996, ông Thấu lên làm trùm. Thời kỳ này cha Giuse M. Trần Đức Hạnh từ Thuần Tuư sang phụ trách giáo xứ. Họ giáo lại làm thêm 6 vạn gạch nữa để chuẩn bị xây Nhà giáo lư.

Năm 1997, đặt tượng Thánh Quan Thầy trên trước cuối nhà thờ, do ông bà Kỷ phúng.

Năm 1998, ông trùm Hiện lại tái nhiệm đến 15-8-2004.

Năm 2000 đúc lại chuông và mua thêm một quả chuông mới, xây Nhà Giáo lư.

Năm 2004 lát toàn bộ gạch men trong nền nhà thờ, sửa sân khấu cuối nhà thờ, với sự hỗ trợ của gia đ́nh cụ cố Vượng bên Úc. Lúc này cha xứ Đaminh Nguyễn Văn Quát đă về xứ. Ông trùm Oanh đương nhiệm khoá này, từ 15-8-2004 đến 15-8-2008.

Vài ḍng sơ lược về họ giáo, không thể nói hết được những nét đẹp của cộng đoàn nàỵ. Chúng ta có thể nói rằng: Họ giáo có được như ngày hôm nay, ngoài sự giúp đỡ của các đấng bậc, các ân nhân xa gần, c̣n có một yếu tố quan trọng là sự hy sinh cố gắng cao độ của các ban trùm cũng như bà con trong họ giáo qua mọi thời kỳ. Nhất là trong những giai đoạn khó khăn.

Nhờ ḷng đạo đức nhiệt thành của tiền nhân và dân họ mà họ giáo tuy nhỏ và là tân ṭng, mà nay cũng đă đóng góp cho Hội Thánh được một số những người con ưu tú. Đó là:

-Linh mục Giuse Nguyễn Thanh Liêm, đang phục vụ tại TGP Brisbane, Úc Châu.

-Tu Sinh Đaminh Nguyễn Đức Trụ, đang tu học Ḍng Thánh Tâm tại Sydney, Úc Châu

Các nữ tu:

-D́ Cecilia Nguyễn Thị Thanh Thủy RSM, Ḍng Đức Mẹ Từ Bi, Brisbane, Úc Châu, đang phục tại Africa, Phi Châu.

-D́ Mary Vũ Thùy Linh, Ḍng Trinh Vương Việt Nam tại Úc Châu đang phục vụ tại Sydney.

Ngoài ra c̣n một số mầm non ơn gọi đang phát triển.

Hy vọng với truyền thống tốt đẹp sẵn có, cộng đoàn An Thái sẽ lớn lên trong t́nh yêu Chúa mỗi ngàỵ.

Lm. Dom Nguyễn Văn Quát

Quản Nhiệm giáo xứ Nam Lỗ

&

Joseph Vĩnh Nguyễn of Resource

********************

PHẦN HỒI KƯ

ức về quê Ngọai:

Chiếc xe đang bon bon trên đường gần tới Nam Lỗ, th́ một người trên xe hỏi tôi:

Ông cố Cha Thỏa ở Vơng Phan, Hưng Yên. Vơng Phan - Nam Lỗ đường xá xa xôi như vậy, sao Ông cố lại quen được Bà cố mà cưới nhau, chắc mối t́nh phải lâm ly lắm nhỉ ?

Tôi trả lời: Hồi đó tôi làm mai cho Ông cố tôi đó. Cả xe cười rộ lên. Một người hỏi:

Hồi đó Cha ở nơi mô mà làm mai rứa?

Cả xe lại được dịp cười thỏai mái. Trên xe hôm đó có một số Việt Kiều Úc, cha Liêm, bà cố Vượng và tôi về thăm quê ngọai lần thứ hai vào đầu tháng 12 năm 2000. Từ đó h́nh ảnh quê ngoại đă khơi dậy trong trí tôi biết bao kỷ niệm ấu th. Hồi c̣n bé tôi đă được theo Ba Má về thăm quê ngọai mấy lần. V́ c̣n nhỏ nên tôi thấy quê ngọai bao la, làng mạc nằm trên cánh đồng lúa, bên cạnh là con đê lớn song song với con sông rộng và sâu. Tôi nhớ nhà ông Kiểm Lâm là em ruột Bà ngoại, ở sát bên cạnh bờ sông và con đê. Nhà ông có một vườn cây, tôi rất thích thú được trèo lên cây để hái ổi hái táo. Rồi từ đó đi vào làng phải xuống một con dốc. Bờ tre quanh làng xen lẫn hàng hoa giấy và hoa Tầm xuân nở rộ quanh năm đỏ rực. Con đường làng quanh co qua nhiều cái ao rộng, trồng hoa sen hoa súng. Trong đầm ǵ đẹp bằng sen, lá xanh bông trắng lại chen nhụy vàng. Đi sâu vào giữa làng, một ngôi nhà thờ nguy nga, ngọn tháp cao vút, khu nhà xứ rất rộng. Bà ngoại tôi là bà Nguyễn Thị Sinh, ông ngoại đă chết lâu rồi, sau khi sanh được hai người con la Bác Tuệ ở Tuộc, và bà Nguyễn Thị Ṭng là bà cố tôi. Hai con đi ở riêng nên bà ngoại về ở với ông cậu út là ông Kiểm Xuyên. Nhà ông Cậu cạnh nhà xứ và nhà thờ, trước cửa có trồng nhiều cây dâu tằm. Tôi thường leo lên cây dâu để hái quả và đẽo sâu dâu về nướng ăn.

Ôi quê ngoại sao đẹp và vĩ đại thế. Quê hương là chùm khế ngọt, cho con trèo hái mỗi ngày. Quê hương là con đ̣ nhỏ, Mẹ về nón lá nghiêng che. Quê hương nếu ai không hiểu sẽ không lớn nổi thành người.

Ngoài mấy lần theo cha mẹ về thăm quê ngoại, sau tôi c̣n được diễm phúc về sống hai năm trên mảnh đất quê ngoại. Cha già Vinh Sơn Nguyễn Hữu Thụy là em ruột bà nội tôi, Ngài về hưu ở họ An Lạc (Lác Làng) thuộc xứ Nam Lỗ năm 1949 – 195, Ngài bắt tôi theo Ngài và nói:

Tao muốn gây dựng cho mày để sau này trở thành giống má. Tôi chẳng hiểu “ giống má” là ǵ.

Chỉ nhớ nhà và đ̣i về. Thỉnh thoảng Ngài lại cho tôi sang bên ngoại để chơi khuây khỏa. Rồi hôm ngoại qua đời, tôi được đại diện thay mặt Ba Má theo tiễn đưa ngoại đến nơi an nghỉ.

Lúc bấy giờ thời thế chia làm hai vùn, Tự do và làng Tề. Ba má tôi ở vùng Tề nên không thể về dự lễ an táng được.

Tôi được nghe người ta kể lại: Cha già Thụy là em ruột của bà nội tôi. Hồi Ngài đang coi xứ Tuộc, Ngài đă mai mối để Ba Má tôi cưới nhau. Trong gia đ́nh bên nội, có nhiều anh em, nhưng ngài thương Ba tôi nhất. Mỗi khi về thăm quê, Ngài thường ở nhà Ba Má tôi. Có lẽ v́ thế mà Ngài đă lưu tâm gây dựng cho tôi trở thành “giống má”.

Kính thưa Cha già kính yêu,

Con đang viết những gịng chữ này, con xin chắp tay lạy Cha ba lậy một qùy để tạ lỗi, v́ hồi đó c̣n thơ dại, con chẳng hiểu biết ǵ. Sau lớn lên con mới biết Cha già thương con lắm.

Con nhớ một hôm con nằng nặc đ̣i về, v́ nhớ nhà, con cứ khóc và vùng vằn. Đường xá xa xôi cách trở, làm sao mà đưa con về được. Cha già khuyên bảo con, con không chịu nghe cha già không dám đánh con, v́ ngài thương đứa cháu nhỏ phải xa cha mẹ. Ngài quay mặt đi và cho Thày Thông con Ngài đánh con ba roi. Thế là con giận cha già măi..... .

Tháng 7 năm 1950 ban đêm con ngủ ở ngoài hè với mấy đứa trẻ, người ta đánh thức con dậy và nói: “dậy đi, dậy đi mau lên, để đưa cha già xuống nhà ngang dưới”. Con chẳng biết ǵ tưởng người ta dắt cha già xuống nhà dưới, sau đó con mới biết cha già vừa mới qua đời. Thế mà con chẳng có một giọt nước mắt để khóc thương cha già. Ngày hôm sau Thày Thông may cho con một bộ quần áo vải sô và một cái khăn tang. Thày dặn con: “Ngày mai khi đưa đám tang cha già, phải mặc quần áo sô và đội khăn tang đi trứơc Quan Tài, thay mặt cho Ba Má và họ hàng”. Không ai đến dự đám tang được, đường xá xa xôi cách trở v́ hai vùng tề và tự do khác nhau, không đi lại được.

Cha già ơi; thật là vinh hạnh cho con được đại diện cho cả ḍng họ để đưa tiễn cha già. Nhưng lại thật tệ bạc v́ con chẳng biết ǵ. Con đă không nghe lời Thày Thông, và con đă bỏ trốn không mặc áo sô, để tang v́ sợ mắc cở với chúng bạn.

Sau mấy ngày an táng cha già xong Thày Thông mới tính tội con. Thày chỉ cho con thấy những lỗi lầm và sự tệ bạc. Thày đánh con 5 roi, rồi cho bà cụ Luận đưa con về quê để báo tin cha già đă qua đời. Dù phải đ̣n đau nhưng sắp được về quê con thấy sung sướng và quên hết đau.

Về tới quê Vơng Phan, mấy ngày sau th́ trong xứ làm lễ phát tang cha già tại sân nhà thờ thật long trọng. Cụ Trần Bát Đẩu thay họ hàng đọc bài điếu văn khóc cha ǵa:

Than rằng: Thấy h́nh Tử đạo treo ra
Nh́n xem sự tích xót xa ḷng vàng.
Ngán thay sinh tử đôi đàng
Ai ân cắt rẽ can tràng làm hai.
Kính nhớ cha già bản quán
Thánh hiệu Vinh thiêng
Vốn xưa tính nết khoan hoà
Kiệm cần bác ái thật là khôn ngoan.
Nhà thờ nhà xứ lo toan.
Tài cao khéo vá vận hàn nổi danh.
Trải bao nhiêu xứ chung quanh
Thuộc trong ba tỉnh rành rành đến nay.
Ư trên mầu nhiệm ai hay?
Tám mươi lăm tuổi vừa đầy can chi.
Cha già sao đă vội đi
Để cho đâu đấy sầu bi rầu rầu.
Mộ phần AN LẠC đới sầu
VƠNG PHAN cây cỏ trăm chiều ủ ê.
Họ hàng thương cảm tiếng ve
Cháu con cảm động canh kê ngập ngừng.
Cây muốn lặn, gió chẳng đừng,
Hiếu chung hai chữ nửa chừng đắng cay.
Cha ơi có thấu chăng hay?
Muốn đem hiếu nghĩa mà xây bên mồ
Chẳng may đang lúc nhậm mù
VƠNG PHAN NAM LỖ đường cù xa xôi.
Cha về chầu Chúa Ba Ngôi,
Để cho quê quán ngậm ngùi nhớ thương.
Cầu xin Rất Thánh Nữ Vương
Rước Cha về nước Thiên Đàng Amen.

Thời thế biến đổi, tháng Tư năm 1954 mọi người kéo nhau vào miền Nam, tưởng chẳng bao giờ được về thăm quê ngoại và viếng mộ cha già nữa.

Tháng năm 1975 đất nước giải phóng hai miền Nam Bắc sum họp một nhà, thế là lại có dịp về quê ngoại và thăm mộ cha già. Từ năm 1995 đến nay tôi đă trở về thăm quê hương 5 lần và ba lần về quê ngoại, và viếng mộ cha già, và đă sửa lại mộ phần Cha già.

Cây có cội, nước có nguồn, con người có tổ có tông Quê ngoại dù không phải nơi chôn rau cắt rốn, nhưng có phần mộ Tổ Tiên của Ngoại, hơn nữa lại có Mộ phần của Cha già bên Nội, nên đời con cháu làm sao có thể quên được. “Quê Hương nếu ai không hiểu, sẽ không lớn nổi thành người “.

Lm. Vinh Sơn Trần Thanh Thoả

========

NHỚ VỀ QUÊ HƯƠNG NAM LỖ

Vài cảm nghĩ lần đầu tiên về thăm quê ngoại GIÁO XỨ NAM LỖ

Quê nội tôi là giáo xứ Vơng Phan: ba tôi vẫn nói VƠNG PHAN NAM LỖ ĐƯỜNG CÙ XA XÔI..

Ra đi từ khi tôi lên 5 tuổi, tôi đă về quê nội hai lần, nhưng lần đầu tiên được về thăm quê ngoại và cũng là quê hương của chồng tôi.

Ngồi trên ôtô từ xa xa nh́n vào đă thấy tháp chuông cao vút của những nhà thờ giáo họ thuộc giáo xứ Nam Lỗ.

Cha xứ Đa Minh Nguyễn Văn Quát đă ra đón chúng tôi từ ngă ba D́nh Thuong, có Cha Anh và anh em chúng tôi.

Về tới nhà thờ Lác Làng một hồi chuông vang lên, tôi đă thấy từ các ngơ đường dẫn đến nhà thờ các cụ già, người lớn, em bé mấy phút sau đă chật ních pḥng khách giáo họ. Tôi cảm động vô cùng về ḷng hiếu khách của cha xứ và giáo dân.

Chúng tôi được cha xứ dẫn về thăm giáo họ An Thái, nơi có các phần mộ tổ nội gia đ́nh chồng năm an nghỉ bên cạnh giáo đường.

Nh́n ngôi thánh đường giáo họ An Thái, tôi nhớ lại hồi mới về làm dâu bà Nội chồng kể cho nghe về những ngày xây dựng ngôi thánh đường năm 1945 là năm đói. Các cụ đang xây th́ có những người thợ đến xin làm không công, họ chỉ cần được ăn no. Ở nhà có một cót thóc lớn ngày nào cũng xúc thóc xay gạo cho thợ ăn mà sao cót thóc vẫn cứ đầy. Rồi con sông trước mặt tiền nhà thờ, tự nhiên nổi lên một cồn cát, thợ và giáo dân cứ ra xúc cát về xây. Khi hoàn thàhn xong ngôi thánh đường th́ cồn cát cũng biến mất.

Trải qua 60 năm nhà thờ vẫn hiên ngang xừng xững với thời gian vẫn đẹp về lối kiến trúc cổ kính.

Về đến giáo họ Lác làng, Cha xứ dẫn chúng tôi viếng mộ Cha già Thụy là ông Cậu Nội của chúng tôi, đă an nghỉ bên cạnh đầu nhà thờ, tôi đă rơi lệ khi bao năm qua mà giáo dân ở đây vẫn có ḷng kính mến cha già, người đă có những năm tháng quản nhiệm giáo họ Lác làng và gắn bó quăng đời về hưu ở đây. Tôi không nhớ được h́nh dáng của cha già cố. Nhưng ba tôi vẫn kể khi c̣n nhỏ anh em chúng tôi hay chơi chốn t́m, tôi là người hay chạy vào ẩn nấp trong áo chùng thâm của cha già ( v́ cha già hay về nhà ba mẹ của tôi chơi hoặc dưỡng bệnh.)

Giáo họ Lác Làng cũng là nơi có phần mộ cố ngoại của ông xă tôi nằm an nghỉ bên cạnh giáo đường. V́ các ngài là những vị ân nhân của giáo họ.

Chúng tôi về là vào dịp lễ mừng bổn mạng của giáo họ Lác làng (Lễ Đức mẹ Dâng Ḿnh) Chúng tôi được tham dự thanh lễ trọng thể, co ken tây va trong.

V́ thời gian eo hẹp, chúng tôi lại được Cha xứ đưa về giáo xứ Nam Lỗ nơi quê ngoại cúa chúng tôi bao la cánh đồng lúa và những vườn chè, nơi mà mẹ tôi đă sinh ra và lớn lên từ giáo xứ này, nơi mà mẹ tôi đă được dạy dỗ và học bao điều ở đó, hiền ḥa, chân thật và nhẫn nại để mẹ về làm dâu giáo xứ Vơng Phan và đă dạy dỗ anh chị em chúng tôi nên người.

Từ biệt giáo xứ Nam Lỗ, giáo họ An Thái, giáo họ Lác Làng, chúng tôi cứ luyến tiếc ngẩn ngơ và mong sẽ có ngày về quê hương để thăm lại.

Xin cảm ơn tiền nhân những người đă hy sinh và dùng cuộc đời ḿnh như những viên gạch để xây nên một giáo xứ Nam lỗ.

Cuối cùng để tất cả chúng ta những người hậu duệ c̣n ở nơi quê nhà hay làm ăn phương xa luôn luôn nhớ đến và tự hào về mảnh đất thân thương này./.

Maria Thanh Nguyên

***

Hồi Kư Một Giáo Dân An Thái, Gốc Xứ Nam Lỗ

Quê Hương

Tôi sinh trưởng trong một gia đ́nh trung lưu, thuộc làng An Thái, huyện Tiên Hưng, tỉnh Thái B́nh Bắc Việt. Nhà tôi nằm trong một thửa đất rộng cỡ khoảng 1 mẫu Tây, có 2 cổng ra vào, chung quanh nhà có hàng rào tre, trúc và dậu găng, bao bọc chung quanh. Nhà tôi đối diện với nhà thờ giáo họ An Thái, chỉ cách bên này bờ và bên kia con đường làng

Tổ tiên của tôi đă xây cất lên những dăy nhà ngói đồ sộ nguy nga h́nh chữ U vuông nằm ngược. Khu nhà tôi ở có 2 cổng ra vào. Một cổng chính c̣n gọi là cổng (1) đi vào sân nhà ông bà Nội của tôi là Cụ Lang Khiêm và một cổng (2) đi vào sân nhà Cụ Chánh Lễ em ruột Cụ Lang Khiêm. Phía bên trong các cổng đều có sân lát gạch rất rộng, nối liền từ cổng vào nhà. Bên trái sân gạch cổng (1) là một dăy nhà ngói dài 5 gian của Cụ Lang Khiêm có nền cao chừng 1 thước rưỡi, muốn vào nhà phải bước lên nhiều bậc. Bên phải sân gạch là nhà bếp, chuồng trâu và bể chứa nước mưa, hứng từ cây mít chảy xuống. Bể nước mưa và nhà bếp được xây cất dọc theo bên bờ, hồ cá, ao bèo lớn. Bờ hồ có 4 mặt, 2 mặt giáp 2 con đường làng, 2 mặt c̣n lại giáp với nhà tôi và nhà ông phó Chuyên. Hồ có hàng rào găng cao, mọc lên theo hai bên bờ hồ, song song với 2 con đường làng, để đề pḥng kẻ gian vào bắt trộm cá.

Nhà Thờ An Thái

Cùng dùng chung hồ cá, ao bèo rộng lớn này với gia đ́nh tôi là gia đ́nh nhà ông bà phó Chuyên. Nhà ông bà Chuyên nằm ngay góc ngă ba từ đường cái đổ dốc xuống đường làng và từ bờ sông quẹo trái xuống nhà thờ An Thái. Gia đ́nh nhà ông bà Chuyên có anh Cần, anh Lập và chị Huê. Nhà họ nằm phía bên phải bờ hồ đối diện với nhà tôi.

Cổng (2) vào khu nhà Cụ Chánh Lễ, phía bên trái cổng (2) có một dăy nhà ngói, sau nhà Cụ Chánh Lễ có hàng rào găng, được trồng để ngăn cách giữa nhà cụ Chánh Lễ với nhà ông bà Chuẩn bên cạnh. Cổng (2) đi thẳng vào sân gạch phía trước nhà chú thím Nghị. Hai dăy nhà này th́ nền thấp, từ sân bước lên chỉ cao khoảng 1 hay 2 bậc. Dăy nhà Cụ Chánh Lễ và dăy nhà chú thím Nghị, nối liền góc vuông thước thợ với nhau theo h́nh chữ L ngược.

Mồ Mả Tổ Tiên tác giả

Nhà Thờ An Thái

 

Giáo Họ An Thái

Dọc theo bờ sông có con đường Cái nối liền các làng, từ Hoàng Nông sang Lác Trại. Làng An Thái của tôi nằm ở giữa khoảng đường này và có con đường rẽ xuống nhà tôi và nhà thờ An Thái. Vừa rẽ xuống đường làng th́ gặp ngay cái hồ sen ông Thánh phía bên trái cuối nhà thờ giáo họ. An Thái nhận Thánh Giuse thợ làm quan thầy, lễ kính hàng năm vào tháng Năm. Do đó gia đ́nh chúng tôi cũng nhận Thánh Giuse làm Thánh Bổn Mạng.

Quê tôi là một họ lẻ của giáo xứ Nam Lỗ, thuộc giáo phận Thái B́nh và có cái tên rất hiền ḥa là An Thái. Theo lời kể của Bố Mẹ tôi. Tổ tiên tôi là những người tân ṭng Công Giáo, nhưng v́ nhờ phước đức ông bà, cho nên gịng họ làm ăn khá giả. V́ thế cụ Hậu Thứ là ông Cố Nội của tôi và là thân sinh của các các Cụ Lang Khiêm và Cụ Chánh Lễ đă tự xuất tiền túi ra xây nhà thờ An Thái để cảm tạ Thiên Chúa v́ đă cho các cụ t́m biết Chúa. Nhà thờ được 2 cụ Lang Khiêm, cụ Chánh Lễ và Bố tôi trông coi, bảo quản cho đến ngày di cư vào Nam 1954, th́ bỏ nhà thờ và tất cả tài sản lại sau lưng.

Gia đ́nh chúng tôi cũng có ruộng đất thâm canh và thuê mướn người canh tác. Thỉnh thoảng tôi theo Bố Mẹ và các chị ra ruộng đạp guồng, tát nước lên ruộng và đem cơm nước cho các cô, chú canh nông. Nhưng đồng ruộng chỉ là nghề phụ, c̣n gia đ́nh chúng tôi sống bằng nghề chính là nghề thầy thuốc Đông Y, chuyên bào chế thuốc gia truyền, chữa trị cho các bệnh nhân để “Cứu nhân độ thế”.

Nội tôi, được song than là Cụ Hậu Thứ gửi sang Tàu theo học ngành Đông Y. Cụ Lang Khiêm có 3 người con là: Bác Trùm Dậu gái, nhà ở gần nhà thờ Nam Lỗ, bác Lư Việt gái nhà ở Phục Lễ và Bố tôi. Nội tôi là người đức độ nổi tiếng, mát tay đă cứu chữa cho nhiều bệnh nhân. Dân làng, xă, huyện nhiều người kính nể. Cụ là Thầy thuốc giỏi, chuyên bắt mạch, khám bệnh, phê toa. C̣n Bố tôi th́ trông coi pḥng thuốc, chuyên bốc thuốc theo toa cho các bệnh nhân từ pḥng mạch ông Nội chuyển qua. Bà Nội và Mẹ tôi th́ lo luyện thuốc hoàn tán và thuốc tễ. Ông Nội và Bố tôi đều thông thạo nho học, đọc thông viết thạo Hán văn.

Ngày c̣n nhỏ, cha Liêm và tôi, hai anh em chúng tôi lén bốc trộm thuốc tễ đang phơi của bà Nội và Mẹ tôi ăn vụng, suưt chết. Cha Liêm bị trúng thuốc, lở hết cả người, c̣n tôi th́ bị tiêu chảy đến nỗi lơm sâu cả 2 con mắt. May nhờ có ông Nội cho uống thuốc giải kịp thời, nên đă thoát khỏi lưỡi hái tử thần.

Ông Nội tôi là Cụ Lang Khiêm qua đời khi tuổi c̣n trẻ, v́ bị Tây càn, bắt đi tải đạn nặng nề và bị đánh đập tàn nhẫn, khiến Cụ bị chấn thương, bệnh nặng rồi qua đời, trong lúc đó Bố tôi cũng bị Tây càn, bắt đi lao động biệt tăm tích gần 2 năm trên vùng cao. Khi ông Nội tôi chết, Bố tôi c̣n đang bị giam ở Yên Phụ, Yên Tử, Bắc Giang.. Sau này Bố tôi vượt tù, chạy bán sống, bán chết, trốn về được đến nhà.

Ngày an táng Ông Nội tôi là một ngày rất đau buồn, v́ lối xóm không ai dám tụ tập đông người, sợ Tây về làng càn quét bắt đi. Mẹ tôi thắt cho tôi chiếc khăn tang, quấn tṛn trên đầu, rồi tôi cũng ngẩn ngơ khóc như mọi người, đi theo sau quan tài của Ông lên nhà thờ, cùng với mọi người đọc kinh cầu nguyện, rồi đem Ông ra chôn cất phía bên hông trái nhà thờ An Thái, kế bên mộ song thân của Ông là 2 cụ Hậu Thứ.

Qua nhiều biến cố thời đại, sau 1975 nhà thờ An Thái bị xuống cấp trầm trọng. Ban Hành Giáo của giáo họ đă gửi thư sang Úc, đề nghị gia đ́nh chúng tôi trợ giúp trùng tu lại Thánh Đường và bốc hài cốt các Cụ, cải táng lên khuôn viên phía bên phải nhà thờ An Thái chôn cất lại như ngày nay, để ǵn giữ di tích lịch sử, ghi nhớ công ơn của các Cụ đă xây dựng lên nhà thờ giáo họ An Thái. Chúng tôi đă làm theo lời yêu cầu của Ban Hành Giáo An Thái.

Khi c̣n nhỏ, tôi vẫn theo ông chú của tôi là Cụ Chánh Lễ vào nhà thờ An Thái vây lưới bắt chim sẻ. Bày chim sẻ thường hay chui qua các lỗ cửa sổ, gần mái nhà thờ. Chúng bay vào trong nhà thờ làm tổ và đậu trên các bàn thờ, tượng ảnh, phóng uế bừa băi, dơ dáy các nơi thờ phượng, nên Cụ Chánh Lễ thỉnh thoảng huy động con cháu, vây lưới bắt chim làm thịt đánh chén. Cụ sai chúng tôi đóng hết các cửa lại, vây lưới chung quanh các cửa sổ, rồi lùa cho chim bay, dính vào lưới. Chúng tôi bắt được cả 100 con, bỏ vào lồng đem d́m chúng xuống dưới nước cho chết, rồi nhúng vào nước sôi nhổ lông, mổ bụng làm sạch sẽ, thịt bằm nhuyễn với hành tiêu, mộc nhĩ, rồi vo lại thành viên, bỏ vào nồi nấu măng miến cùng với tim, gan, ḷng ruột. Món chim sẻ nấu miến ăn rất ngon và khóai khẩu.

Ngày nay, mặc dù ở một phương trời xa, dưới tận cùng của trái đất, cách quê nhà cả hàng chục ngàn dặm, nhưng cứ mỗi lần nhắc nhớ đến quê hương, tổ tiên, là tôi lại thèm “món chim sẻ nấu măng miến và mút những trái vải, nhăn lồng, có vỏ bóng láng trong khu vườn của gia đ́nh tôi, quê hương An Thái”

Hồi đó, mỗi sáng Chúa Nhật chúng tôi phải sang quê ngoại, nhà xứ Nam Lỗ để tham dự Thánh Lễ, đường sang quê ngoại phải qua sông bằng con đ̣ ngang của nhà ông Thận, hay c̣n gọi là bến đ̣ Sổ. Có khi chị em chúng tôi rủ nhau đi sang nhà Ngoại sớm vào chiều thứ Bảy chơi, rồi ngủ tối bên đó, để sáng Chúa Nhật đi Lễ cho tiện và gần. V́ Lễ sáng Chúa Nhật được cử hành rất sớm khoảng 4 hoặc 5 giờ sáng. Lễ xong, mà trời vẫn c̣n tối.

Tôi c̣n nhớ, sau khi tan Lễ, ra khỏi nhà thờ, th́ nh́n thấy hai bên đường đi vào nhà thờ, người ta bày rất nhiều nia, thúng để bán hàng, trong các nia có để các thức ăn và rau, quả như: Thịt trâu, ḅ hay thịt lợn, bánh, rau qủa, cá múa, tôm tép mới bắt được. Trên những chiếc nia được lót một lớp lá chuối xanh, bày bán thịt, tiết canh ḷng lợn, tôi nh́n thấy mà phát thèm, nhỏ răi. Các tô tiết canh được mấy ông hàng xáo, đánh rất nghệ thuật, tiết đông đến nỗi họ úp ngược tô xuống nia mà tiết vẫn không rớt ra khỏi tô.

Mỗi lần sang nhà ông Ngoại, chúng tôi thường ra sân cuối nhà thờ Nam Lỗ vui chơi đuà giỡn. Phía cuối nhà thờ Nam Lỗ có một bức tường và tháp chuông cao, dưới bức tường có những cái cửa, phía trên h́nh tṛn. Chúng tôi rủ nhau chui qua, chui lại và chơi tṛ năm mười, ẩn núp, t́m bắt.

Thỉnh thoảng chúng tôi được quan sát ông Cận giật chuông, ông Cận có tật ở chân, nên ông phải đi khập khễnh. Mỗi khi ông kéo dây chuông xuống, th́ quả chuông lại văng lên, kéo theo sợi dây chuông và người ông cũng đu lên theo quả chuông, nh́n rất buồn cười.

Theo Bố Mẹ tôi kể lại, th́ tôi chào đời tại quê hương An Thái và được bế sang nhà thờ xứ Nam Lỗ cho cha Giuse Phạm Hữu Đoàn rửa tội, lúc đó có thầy Điều con thiêng liêng của cha Đoàn c̣n đang giúp xứ, thầy Điều hiện nay là cha già cố Đa Minh Nguyễn Trinh Đức đă cao tuổi và bị lăng trí, đang nghỉ hưu dưỡng ở giáo xứ Thánh Tâm, kênh B2, Cái Sắn, giáo phận Long Xuyên.

Lúc chị em chúng tôi lớn khoảng 4 hay 5 tuổi, th́ Bố Mẹ cho chúng tôi gia nhập vào đoàn nghĩa binh của giáo xứ, do ông Quản Bột làm quản giáo nghĩa binh, coi sóc chúng tôi. Ông Bột có liên hệ bà con với Mẹ tôi, tôi gọi bằng bác Bột, ông cũng là là em ruột của bà Chánh Lễ, bà thím của tôi. Tướng tá bác Bột cao ráo giống như Tây lai. Thời kỳ cải cách ruộng đất sau 1954, bác bị ṭa án nhân dân địa phương kết tội ǵ đó.....rồi đem Bác đi xử bắn. Bác bị chết oan. Nghe đâu sau này, nhà nước xin lỗi và phục hồi nhân phẩm cho Bác. Cũng tội nghiệp cho bác Bột của tôi.

Những năm gần di cư vào Nam 1954, th́ bác Trùm Viêm, bố của Cha Sơn làm trùm chánh trương xứ Nam Lỗ, bác trùm Viêm gái là con của bà Lư Ngàn. Bà Ngoại tôi và bà Lư Ngàn là chị em ruột, bác trùm Viêm gái với Mẹ tôi là chị em đôi con d́. C̣n bác trùm Viêm trai là con cả của Cụ Chánh Chuẩn, nhà bác ở phía bên phải, đối diện nhà thờ Nam Lỗ, Đồng Mư. Nhà Ông Ngoại tôi th́ ở phía bên trái, gần góc sân, cuối nhà thờ xứ. Đối diện nhà ông Ngoại tôi là nhà bác Báo. Bác Báo và Mẹ tôi cũng là con d́. Đàng sau nhà ông Ngoại tôi là nhà ông phó Đoán, rồi đến nhà bác Bột có các anh Quyền, Hy, Vọng …con bác.

Bà Ngoại tôi mất khi Mẹ tôi c̣n rất nhỏ, lúc đó cậu Huấn, cậu út của tôi chưa đầy một tuổi. Bà Ngoại tôi qua đời, ông Ngoại tôi hăy c̣n ở lứa tuổi thanh niên, mới có 27 tuổi. Cụ ở vậy, gà trống nuôi con, nuôi 3 chị em Mẹ tôi là: bác Hữu gái 5 tuổi, Mẹ tôi 3 tuổi và cậu Huấn chưa đầy 1 tuổi. Ông Ngoại tôi tần tảo, vất vả nuôi con, sau này ông phải nhờ cậy đến bà Sinh là bà chị ruột của Ông Ngoại, cũng là bà Ngoại của cha Thỏa và bà Cần vào phụ giúp trông coi 3 chị em Mẹ tôi. Tôi cảm phục Ông Ngoại tôi, một thanh niên có chí khí nam nhi với ḷng chung thủy phu thê đáng khâm phục. Ông thủ tiết nuôi các con cho đến ngày lâm trọng bệnh, qua đời tại nhà tôi trên Sàig̣n năm 1971, thọ 79 tuổi.

Đi học miền Bắc

Khi lớn lên khoảng 3 hay 4 tuổi, chị em chúng tôi được Bố chở lên tỉnh Thái B́nh mua cho mỗi đứa một cái cặp gỗ, loại cặp như cái hộp nhỏ chừng 4 tấc vuông, có chân gấp xéo, giống cái bàn của mấy anh bán kẹo kéo.

Mỗi buổi sáng chị em chúng tôi, ăn cơm nước xong, đeo cặp, đi bộ sang làng Lác học, chúng tôi phải đi qua Mả Vừa (nghĩa địa) làng Lác. V́ c̣n nhỏ hay sợ ma, cho nên mỗi khi đi qua nghĩa địa, tôi cảm thấy người hơi rờn rợn tóc gáy.

Trường làng là một căn nhà ngói, thô sơ của thầy giáo Sánh, căn nhà này đă từng bị bom của Tây đánh sập. Tất cả các học sinh đều phải ngồi xếp bằng trên các manh chiếu rách để học, ḅ chổng mông lên viết bài, ngoại trừ mấy chị em tôi có bàn viết. Sau giờ học chúng tôi về nhà đóng cổng, chơi với nhau trong sân, không được ra ngoài lêu lổng.

Hồi đó, trong làng chỉ ḿnh Bố tôi có chiếc xe đạp, nên Bố tôi giữ rất kỹ. Lúc bấy giờ, xe đạp là loại hiếm quí, nó được coi là vật xa xỉ, giống như nhà giầu có cái xe hơi hiệu Mercedes bây giờ và c̣n qúi hơn nữa.

Với những kỷ niệm lưu luyến, Bố tôi thường dùng xe đạp, đèo 2 anh em chúng tôi lên tỉnh Thái B́nh dạo chơi và mua sắm các đồ dùng cần thiết cho gia đ́nh. Xe đạp kiểu đàn ông, được Bố tôi buộc thêm một cái ghế mây nhỏ, cột chặt vào khung phía trước xe, gần sát ghi đông (tay lái). Ghế loại trẻ con này dành cho tôi ngồi. C̣n chiếc bargar phía sau dành cho cha Liêm. Mấy Bố con chúng tôi cũng thường hay lên Thái B́nh vào tiệm chụp h́nh, chụp những tấm h́nh kiểu với chiếc xe đạp, để kỷ niệm. Khi di cư vào Nam, gia đ́nh chúng tôi mang theo được những tấm h́nh này, nhưng một thời gian sau, căn nhà ở dinh điền Cái Sắn, tỉnh Long Xuyên của chúng tôi bị băo lụt, nên những tấm h́nh quí giá này bị hủy hoại hoàn toàn. Năm 1954, lúc trốn khỏi làng, di cư, gia tài Bố con tôi chỉ đem theo độc nhất có chiếc xe đạp. Ra đến tỉnh Hải Dương, Bố tôi đă phải bán nó, để lấy tiền độ đường, mua vé tàu hỏa xuống Hải Pḥng.

Di cư

Cũng 1954, sau vụ cải cách ruộng đất, có những kẻ ác cảm muốn chiếm đoạt tài sản của gia đ́nh chúng tôi, chúng đă xếp gia đ́nh chúng tôi vào loại địa chủ, chuẩn bị đưa gia đ́nh chúng tôi ra đấu tố. Mặc dầu Cha, Ông chúng tôi chỉ là những thầy thuốc Đông Y chuyên lo “Cứu Nhân Độ Thế”. Hơn nữa Ông Nội và Bố tôi đă bị Tây càn, bắt đi lao động, giam giữ gần 2 năm tại vùng rừng sâu nước độc măi tận Bắc Giang..

Trong thời điểm 1954. Dân chúng được thông tin, ai muốn đi vào Nam th́ tập trung, rồi sẽ có cán bộ hướng dẫn ra đi, do đó dân làng kéo nhau xuống bến đ̣ Gồ Láo, làng Lác, bên kia sông là làng Sốc để vượt sông di cư. Nhưng trên thực tế, các cán bộ thôn, xă đă được chỉ thị bằng mọi cách giữ dân lại. Khi dân chúng tập trung tại bến đ̣ ngang để qua sông t́m đường ra Hải Dương, Hải Pḥng, th́ cán bộ cho dấu đ̣ ngang và tuyên truyền để đồng bào giải tán trở về nhà làm ăn, xóa bỏ ư định dời quê hương.

Bố tôi trốn trại tù của Tây về nhà được vài tháng th́ lại bị Ủy Ban thôn xă, bắt đi nhân công tải đạn tiếp tế vào Nam. Sau nhiều lần tập trung họp tại đ́nh làng An Thái để xác định bổ xung công tác. Vào một đêm không trăng sao, khoảng 1 hay 2 giờ sáng, bố tôi đă xé rào, trốn khỏi làng, chỉ dẫn có một ḿnh tôi đi theo. Lư do chúng tôi phải xé rào trốn đi, v́ dân quân họ gác chặn các nơi đầu làng, xó chợ, để giữ dân lại.

Cha con tôi vượt thoát khỏi làng, đạp xe đến cầu đổ Quỳnh Côi, lúc đó trời mới tờ mờ sáng, th́ ngă xe xuống ruộng, ướt hết cả người, tôi rét run cầm cập. Bố tôi cởi hết quần áo của tôi ra, vắt sạch nước cho khô, rồi mặc lại cho tôi. Ra tới Hải Dương th́ đă trưa, Bố tôi vào đồn Tây xin cơm cho tôi ăn. Tôi nh́n thấy tên Tây đen th́ khóc thét, ôm chặt lấy Bố tôi. Sau đó Bố tôi đi t́m người mua, gạ bán chiếc xe đạp để lấy tiền độ đường, mua vé tàu hỏa đi xuống Hải Pḥng.

Tới Hải Pḥng, hai cha con tôi vào tạm trú ở trại tỵ nạn, căng Thượng Lư để đợi Mẹ tôi. Chừng 1 tuần sau, th́ Mẹ tôi dẫn được bà Nội, chị Lạc tôi, cha Liêm và em trai tôi 1 tuổi và người chị họ cùng trốn thoát được đến Hải Pḥng. Hai cha con tôi gặp lại gia đ́nh th́ mừng rỡ. Thế là ngày hôm sau chúng tôi bồng bế nhau xuống tàu “Há Mồm” di cư vào Nam ngay, v́ sợ ở lại Hải Pḥng lâu, có thể sẽ bị đuổi về An Thái.

Lên Tàu Thủy dời bến Hải Pḥng, sau 3 ngày, 3 đêm lênh đênh trên biển cả, tàu chúng tôi đă cặp bến cảng Sàig̣n. Mọi người xuống tàu, được đoàn xe cam nhông chờ sẵn, chở chúng tôi lên trại định cư Lạc An, Tân Uyên, Biên Ḥa. Nơi đây đă có sẵn nhà cửa, được làm bằng cỏ tranh do chính phủ Việt Nam Cộng Ḥa miền Nam xây dựng sẵn cho đồng bào di cư.

Xuống xe chúng tôi phải qua phà để sang trại Lạc An phía bờ bên kia thượng nguồn sông Đồng Nai. Nơi đây đă có hàng chục ngàn người di cư đến trước chúng tôi. Chúng tôi t́m kiếm những người gốc giáo xứ Nam Lỗ như: Sổ làng, Lác Làng, An Thái, Sốc v.vv.. tụ họp nhau lại, rồi đi vào xa và sâu hơn để nhận nhà. V́ chúng tôi đến sau các giáo xứ khác.

Đến trại Lạc An, Tân Uyên, Biên Ḥa, chúng tôi như rắn không đầu, cố gắng qui tụ lại với nhau, lập thành nhóm đồng hương giáo dân gốc xứ Nam Lỗ, rồi cùng nhau xây dựng lên nhà thờ, lập thành giáo họ Nam Lỗ, Lạc An để tưởng nhớ quê hương. Tôi thấy chưa bao giờ chúng tôi có sự đoàn kết, thân t́nh đồng hương, như những lúc phải xa quê hương như thế này..Giáo họ Nam Lỗ, Lạc An chúng tôi được sát nhập vào giáo xứ Vạn Đồn, Lạc An do cha Phêrô Mai Trí Thuật làm quản xứ. Kế bên giáo họ Nam Lỗ là giáo xứ Cao Xá, Lạc An do Cha già Khuông quản xứ, Ngài ghiền ăn trầu. Tôi c̣n nhớ Cha già Khuông có 2 người con linh tông là thầy Khang và thầy Khải. Thầy Khang đỗ linh mục vào thập niên 60, h́nh như sau đó được về làm quản xứ giáo xứ Thái B́nh, Xóm Mới, G̣ Gấp, Sàig̣n và thầy Khải sẹo, xuống Cái sắn Kinh B theo cha Tân giúp xứ B́nh Cát (Thái B́nh, Sa Cát) vài năm, thầy Khải đỗ linh mục thuộc giáo phận Cần Thơ rồi được cử đi làm quản xứ giáo xứ Ḥa Tú, Cổ C̣, Sóc Trăng.

Ngoài ra Cha Đoàn c̣n dẫn theo một số đông giáo dân gốc nhà xứ Nam Lổ vào vùng rừng núi Bà Nhă, Bời Lời, Trảng Bảng, Tây Ninh định cư, thành lập lên giáo xứ mới Nam Lỗ, Bời Lời, Tây Ninh.

Xuống miền cực Nam lập nghiệp

Định cư ở 2 vùng Lạc An và Bà Nhă, Bời Lời được gần 2 năm. T́nh h́nh kinh tế làm ăn khó khăn, chỉ trông cậy vào nghề thủ công nghệ. Thanh niên, đàn ông phải vào tận rừng sâu nguy hiểm: chặt tre, đốn giang, đóng bè lao xuống sông, thả trôi theo ḍng nước về trại, vớt lên: chẻ tre, vót nan, đan, lát, thành thúng mủng, rổ rá, giao cho con buôn đem về Sàig̣n bán. Hàng ngày dân chúng chỉ ngóng cổ, trông cậy vào viện trợ lương thực của giáo hội Công Giáo Hoa Kỳ, nên Đức Cha Phạm Ngọc Chi giám đốc đặc trách phong trào di cư, đă liên lạc với Phủ Tổng Ủy Di Cư của chính quyền miền Nam, xin cho di dân xuống các dinh điền thuộc vùng đồng bằng sông Cửu Long, miền Tây như: Mộc Hóa, Sóc Trăng, hay Cái Sắn, Rạch Giá, Long Xuyên.

Thế là cuộc di cư vĩ đại lần thứ 2 lại được thực hiện vào năm 1956. Tât cả bà con đồng bào thuộc trại Lạc An ai muốn đi xuống vùng nông thôn lập nghiệp th́ chuẩn bị xuống tàu, di cư xuống tận cùng của miền Nam nước Việt. Gia đ́nh chúng tôi cũng nằm trong diện của hàng chục ngàn dân di cư này. Lại bảo nhau thu dọn, bồng bế xuống chành lúa do chính phủ thuê bao để xuôi Nam.

Miền Nam gọi là “Chành Lúa” là những chiếc thuyền khổng lồ chở thóc, lúa. Mỗi chiếc có trọng tải được hàng ngàn tấn thóc. Cứ mỗi chiếc chở được khoảng 100 gia đ́nh. Mỗi một đoàn Chành Lúa gồm 10 chiếc, do một chiếc tàu thủy có máy lớn kéo đi. Vị chi cứ mỗi lần 10 chành luá như vậy, th́ đă di chuyển được cả ngàn gia đ́nh xuống Cái Sắn, Long Xuyên, Rạch Giá.

Xuống Cái Sắn vào đầu năm 1956, nh́n thấy sông ng̣i, kênh rạch chằng chịt, cánh đồng bát ngát, bao la, ai nấy được thở một không khí trong lành mát mẻ tự do. Chính phủ miền Nam đă đào kênh dẫn nước, chia cắt ruộng đất và làm nhà cửa sẵn sàng cho dân. Họ cấp phát tiền và viện trợ lương thực hàng ngày cho từng nhân khẩu và chia cho mỗi gia đ́nh một thửa đất chiều ngang 30 mét tây, chiều dài 1 cây số 200 mét, (30m x 1,200m = 36,000m vuông) khoảng gần 4 mẫu tây ruộng, độ chừng 26 công tầm cắt, (kiểu đo ruộng của người dân miền Nam. Mỗi công tầm cắt rộng khoảng 3 sào 6 miền bắc) và cứ 3 gia đ́nh th́ được cấp phát cho một con trâu.

Ruộng đồng thẳng cánh c̣ bay, ai nh́n cũng ngán. So sánh với miền bắc, mọi người ai cũng thắc mắc, sao mà chính phủ cho ruộng nhiều thế, làm sao mà cày cấy cho hết, chắc phải bỏ hoang.

Người dân di cư c̣n đang hoang mang v́ nhiều ruộng đất, th́ chính phủ cho đội máy cày cả 100 chiếc xuống, cầy ruộng khai hoang cho đồng bào, phát thóc giống cho bà con gieo mạ cấy cày. Đội cán bộ canh nông đến hướng dẫn bà con xạ lúa theo kiểu miền Nam, chứ không cấy lúa theo kiểu miền bắc và cũng không phải tát nước be bờ. Chỉ cần cầy ruộng lên, rắc thóc xuống ruộng, cho máy bừa lại một lần, trời mưa xuống là lúa mọc lên. Lúa mùa mọc lên theo mực nước sông Cửu Long, nước dâng lên tới đâu, lúa mọc lên tới đó. Nước dâng lên tràn ngập cánh đồng trong 6 tháng. Khi nước rút xuống th́ lúa chín, người dân chuẩn bị gặt lúa. Họ chỉ cần dùng cái liềm cắt bông lúa, c̣n rạ bỏ lại cánh đồng, đốt làm phân tro.

Dân di cư cảm thấy vui mừng phấn khởi, v́ cách làm ruộng của nông dân miền Nam thật dễ dàng, không vất vả như làm ruộng ở miền bắc, mà lại gặt được nhiều thóc luá. Mỗi năm, trung b́nh mỗi gia đ́nh có thể thu hoạch được 400 dạ lúa (Mỗi dạ 2 thùng, mỗi thùng 20 lít) khoảng 800 thùng thóc. Nếu đem so sánh với một gia đ́nh miền bắc th́ người di cư giầu có và sung sướng. Chẳng bao lâu người dân di cư vào Nam đă tái lập lại đời sống, trở nên phồn vinh. Các nhà xứ và giáo đường bắt đầu mọc lên nguy nga và tráng lệ. Song song với sự phát triển đó, giáo dân gốc giáo xứ Nam Lỗ đă qui tụ lại với nhau thành lập lên những giáo họ, hoặc giáo xứ gốc Nam Lỗ.

Riêng kênh B2 vùng Cái Sắn, các gia đ́nh gốc Nam Lỗ đă qui tụ lại thành một khu, xây cất lên nhà thờ giáo họ Nam Lỗ, kênh B.

Sau khi Đức Cha Nguyễn Khắc Ngữ về thành lập giáo phận Long Xuyên, Ngài chia cắt, phân định lại ranh giới các giáo xứ cho rơ ràng, mạch lạc. Ngài phân chia mỗi kênh làm 2 giáo xứ (Mỗi kênh dài 12 cây số, Đức Cha phân chia mỗi giáo xứ 6 cây số chiều dài, cắt ngang kênh bằng Kênh Đ̣n Giông). Do đó giáo họ Nam Lỗ kênh B phải lệ thuộc theo giáo xứ có tên mới là Thánh Tâm. Kinh B có đông giáo dân từ nhiều giáo xứ gốc giáo phận Thái B́nh. Nên Giáo họ Nam Lỗ theo qui định ranh giới mới, qui tụ giáo dân của nhiều xứ khác miền Bắc gom lại, nên giáo dân đă bầu lại Ban Hành Giáo và biểu quyết đổi tên mới là giáo họ Hợp Tiến, để thể hiện tinh thần đoàn kết, xóa bỏ tên cũ Nam Lỗ từ đấy. Giáo họ Hợp Tiến có một ½ số giáo dân là gốc Nam Lỗ di cư, bây giờ trực thuộc giáo xứ mới Thánh Tâm do cha Đa Minh Nguyễn Trinh Đức (thầy Điều) con cha già Đoàn Nam Lỗ làm chánh xứ.

Đối diện kênh B là kênh Rivera, giáo dân gốc Nam Lỗ cũng đông, do cha Đoàn dẫn dắt, đă thành lập nên giáo xứ Nam Lỗ, nhưng giáo xứ này lại có đông giáo dân thuộc các giáo xứ khác ngoài miền bắc di cư cũng thuộc giáo phận Thái B́nh cùng chung một khu, nên Cha Đoàn phải họp Hội Đồng Giáo Xứ lại, đổi tên mới là B́nh Nam (do cái tên Nam Lỗ và Thái B́nh gom lại) cho có sự thống nhất và đoàn kết. Giáo dân kênh Rivera theo chân cha Đoàn, th́ đa phần là gốc thuộc họ nhà xứ Nam Lỗ ngoài bắc..

Khi Đức Cha Ngữ phân chia lại giáo xứ. Gx B́nh Nam không nằm trong địa bàn qui định, nên bị mất xứ, xóa sổ. Cha Đoàn phải ra đi xuống kinh 8, gần tỉnh Rạch Giá, Kiên Giang để thành lập giáo xứ mới. Một vài gia đ́nh gốc Nam Lỗ cũng theo Cha Đoàn xuống kênh 8 và kênh 7 lập nghiệp.

Hàng năm các con chiên gốc giáo xứ Nam Lỗ như kinh B, kinh Rivera tổ chức thuê đ̣ máy, rủ nhau xuống chúc Tết cha già Đoàn. Đặc biệt Cha già Đoàn, Ngài ghiền thuốc lào, nên lúc nào cũng có cái điếu để trên bàn nơi pḥng khách. Ai vào thăm, Ngài chào một câu, rồi kéo ngay cái điếu lại, bắn một bi thuốc lào xong, khà một cái cho đă, rồi mới nói chuyện tiếp khách.

Lên Sàig̣n

Sinh sống ở Cái Sắn, Long Xuyên được vài năm, đến năm 1962, một trận đại hồng thủy đă tràn ngập khắp nơi trên vùng đồng bằng miền Tây sông Cửu Long, tàn phá hoa màu, nhà cửa ruộng vườn của người dân nông thôn. Gia đ́nh chúng tôi đành bỏ Cái Sắn bồng bế nhau lên Sài G̣n lập nghiệp và buôn bán, để lại ruộng đồng cho người thân trông coi, một chốn hai nơi. Tuy sinh sống ở Sàig̣n nhưng hàng năm chúng tôi vẫn về Cái Sắn ăn Tết và thu hoạch lúa mùa.

Đến năm 1975, sau biến cố 30 tháng Tư. Th́ gia đ́nh tôi từ từ chuyển nhượng tất cả nhà cửa, ruộng đất Cái Sắn cho cậu Huấn em út của Mẹ tôi.

Vượt biển đến Úc

Sau biên cố 30 tháng 4 năm 1975. Gia đ́nh chúng tôi có cửa hàng buôn bán tạp hóa tại Sàig̣n, nhưng đă bị chính quyền giải phóng tịch thu, xếp vào loại tư sản, nên họ đă cho đội dân pḥng đến niêm phong cửa hàng và tịch thu, lấy đi tất cả hàng hóa của gia đ́nh tôi.

Thế là sau hơn 20 năm thắt lưng buộc bụng, làm ăn buôn bán ở miền Nam, gia đ́nh chúng tôi bây giờ lại trở nên trắng tay, vô sản. Anh em chúng tôi không được tiếp tục đi học nữa, mà phải tham gia vào lực lượng lao động, đi kinh tế mới. Chúng tôi đă bôn ba lên các vùng kinh tế mới, để t́m nơi lập nghiệp dung thân, nhưng chúng tôi đă hoàn toàn thất vọng.

Người dân kinh tế mới sau 1975 phải dùng sức lao động, tự tay phá hoang rừng rẫy, bằng những dụng cụ thô sơ thời đồ đá, không máy móc, không được sự giúp đỡ của chính quyền hay bất cứ cơ quan nào. Chỉ ra sức lao động cật lực để phá hoang, kiếm sống, t́m cây dựng lều, che nắng, che mưa, nằm gai nếm mật, trong nỗi buồn tuyệt vọng.

Tôi quyết định trở về thành phố và t́m đường vượt biển đi t́m tự do. Sau những tháng năm, lặn lội, trốn tránh, lùng kiếm mua ghe, thuyền, đem vào ụ thuê người sửa chữa, lắp máy, rồi kín đáo cất dấu kỹ lưỡng một nơi, chờ thời cơ, chọn một đêm tối tăm, mù mịt không trăng sao, hẹn giờ tụ tập xuống thuyền vượt biển trốn thoát, cũng như lúc di cư năm 1954.

Vượt thoát khỏi Việt Nam cuối năm 1979. Chúng tôi cập vào bến bờ đất nước Mă Lai và được Cao Uỷ Tỵ Nạn Liên Hiệp Quốc đón tiếp, rồi cho chúng tôi xuống tàu, đưa sang trại tỵ nạn trên đảo Pulau Bidong, Mă Lai tạm trú và bao bọc trợ cấp. Ở trên đảo Pulau Bidong khoảng 3 tháng, th́ chúng tôi được phái đoàn Cao Ủy Tỵ Nạn Úc nhận, cho sang Úc Châu định cư.

Đặt chân xuống phi trường thành phố Adelaide, Nam Úc, như từ đáy giếng được vớt lên. Chúng tôi được nhân viên Bộ Di Trú và các cơ quan Từ Thiện di cư ra đón tiếp rất nồng hậu. Họ đưa chúng tôi vào trại tạm cư Pennington Hostel, tạm trú. Cứ 2 người độc thân th́ nhận 1 pḥng ngủ riêng biệt, sau đó lên hội trường làm thủ tục tái khám sức khỏe và lănh tiền trợ cấp xă hội. Họ nuôi nấng và phát tiền cho chúng tôi hàng tuần. Ăn uống hàng ngày đă có Canteen, giống như nhà hàng nấu nướng sẵn cho, cứ việc xắp hàng đến lấy thức ăn ra bàn ngồi ăn, chẳng khác ǵ một restaurant sang trọng. Họ giúp đỡ chúng tôi, cho đến khi đủ sức hội nhập vào xă hội Úc, có thể kiếm được công ăn việc làm.

Hàng ngày chúng tôi được gửi đến trường, học Anh Văn để giao tiếp với người dân bản xứ. Mỗi buổi sáng, chúng tôi dậy sớm kéo nhau xuống Canteen ăn sáng rồi đi học. Chúng tôi vào canteen lựa chọn các thức ăn và nước uống nào mà ḿnh thích, sau đó nhận phần ăn trưa đem theo đi học. Chiều đi học về, chúng tôi nghỉ ngơi tắm rửa đi dạo phố, rồi lại kéo nhau xuống canteen ăn tối.

Thời gian ở Hostel là thời gian rảnh rỗi, phè phỡn nhất, chúng tôi cảm thấy thật sự sung sướng. So sánh với đất nước Việt Nam th́ đây là một Thiên Đàng hạ giới, vừa có cơm ăn, áo mặc lại c̣n được phát tiền tiêu sài hàng tuần. Nhưng chỉ có một nỗi buồn là nhớ quê hương, thương Cha Mẹ, anh chị em c̣n bỏ lại VN, thật là đau đớn xót xa.

Anh em chúng tôi ở trong Hostel một thời gian ngắn, th́ Cha Thụ ḍng Tên Việt Nam, Ngài sang Úc du học trước kia, đă giúp đỡ, thuê nhà cho chúng tôi ra ngoài ở, nhường lại các pḥng trong trại tạm cư Hostel cho những đồng bào đến sau. Chúng tôi mướn một căn nhà có 3 pḥng ngủ, 1 pḥng khách, một pḥng giải trí với 2 toilets trong nhà, giá thuê $25 dollars/một tuần, được chính phủ trợ cấp chu đáo, tiền nhà, tiền ăn phát hàng tuần. Đối với người Việt, th́ dư giả để sống và có thể tiếp tục đi học lại, hoặc đi t́m việc làm. Vốn liếng Anh Văn của chúng tôi bây giờ cũng tạm đủ để hội nhập với xă hội Úc. Tôi trở lại trường học, đi học nghề một thời gian ngắn, sau đó kiếm việc làm. Anh em chúng tôi đều kiếm được việc làm, trong các công xưởng, ngoại trừ cô em út Thủy c̣n nhỏ phải tiếp tục đi học.

Khi đă có việc làm, chúng tôi đủ điều kiện bảo lănh thân nhân sang Úc đoàn tụ. Người đầu tiên chúng tôi bảo lănh là Bố Mẹ tôi.

Chỉ 2 năm sau ngày tôi đến Úc, th́ một niềm vui vô tận lại đến cho anh em chúng tôi là nhận được thư của Bộ Di Trú thông báo, Bố Mẹ của chúng tôi đă được chính phủ chấp nhận cho sang Úc đoàn tụ và sẽ được đến Úc một ngày rất gần.

Tháng Ba năm 1982. Cả 4 anh em chúng tôi cùng với một đoàn xe gồm những bạn bè thân quen và gia đ́nh những người bạn Úc ân nhân, đă hồ hởi lũ lượt kéo nhau ra phi trường Adelaide chào đón Bố Mẹ tôi sang đoàn tụ, trong nỗi vui mừng, hân hoan xúc động. Không c̣n nỗi vui mừng nào khôn tả hơn lúc này.

Bố Mẹ tôi đặt chân đến Úc cũng được hưởng tiền trợ cấp xă hội như mọi người. Đến Úc được vài tuần, tôi ghi danh cho 2 cụ đi học Anh Văn để bập bẹ chào hỏi, hội nhập vào xă hội mới, có thể tṛ chuyện với những người bạn Úc láng giềng chung quanh. Ở bên Úc, thỉnh thoảng Bố tôi cũng giúp đỡ đồng hương, bắt mạch phê toa cắt thuốc theo đông y cho những ai cần thuốc Nam để chữa bệnh, tránh sử dụng nhiều thuốc Tây làm cho bệnh nhân nôn nóng khó chịu. Bố tôi bắt mạch phê toa, hốt thuốc cho họ, lưu truyền nghề tổ tiên xưa. Bên Úc thuốc bắc, nam rất nhiều, nhưng v́ Tây y hiện đại, đă trấn át ngành Đông Y, nên Bố tôi từ từ lui dần vào bóng tối. Đến đời chúng tôi th́ tịt luôn mất gốc.

Một bộ sách thuốc của Ông Nội tôi viết bằng Hán tự cách nay cả 100 năm, bỏ lại miền bắc sau ngày di cư vào Nam năm 1954, bác Phúc bên nhà xứ Nam Lỗ đă sang An Thái thu gom về nhà và lưu giữ cho đến khi Bố Mẹ tôi từ Úc về thăm lại quê hương An Thái lần đầu tiên sau hơn 40 năm xa cách. Bác Phúc đă trao lại toàn bộ sách qúi này cho Bố tôi đem về Úc làm gia phả. Hiện nay Bố tôi c̣n lưu giữ trong nhà. Có lẽ đến đời chúng tôi, th́ chỉ c̣n nước đóng ḥm, cất làm kỷ vật.

Nghĩ lại thời xa xưa, lúc chúng tôi đến Úc chỉ vỏn vẹn có một cái giỏ nhỏ và mỗi một bộ quần áo do Cao Ủy Tỵ Nạn LHQ phát, trước ngày lên máy bay dời Mă Lai. Thế mà giờ đây chúng tôi đă an cư lạc nghiệp và làm lại cuộc đời, c̣n hơn cả lúc ở bên Việt Nam với tuổi trẻ thanh xuân đầy sức lực. Chắc có lẽ chúng tôi được may mắn là nhờ phúc ấm của Ông Bà Tổ Tiên, đă bỏ công sức xây dựng nhà thờ An Thái để cảm tạ hồng ân Chúa, một cái Zen trong máu lưu truyền lại cho chúng tôi được hưởng.

Giờ đây nh́n lại khoảng thời gian trôi qua, bước sang tuổi lục tuần, thời thanh xuân đă hết. Sư nghiệp đă ổn định trên xứ lạ, quê người. Nỗi niềm hoài hương vẫn ray rứt trong ḷng chẳng khi nào nhạt phai.

Ôn lại kư ức, dĩ văng: Chôn rau, cắt rốn từ An Thái. Rèn luyên đức tin và sống đạo thuở ấu thơ từ giáo xứ Nam Lỗ. Lớn lên từ Cái Sắn, Long Xuyên. Thành nhân từ phố thị Sàig̣n. Bôn ba tạo lập sự nghiệp ở Úc Châu và c̣n ǵ nữa....

Cuộc đời của gia đ́nh tôi là những chuỗi thời gian lưu vong biệt xứ. Với tôi chắc cũng sẽ nằm xuống nơi vùng trời đất Úc cách xa quê hương thăm thẳm. Cái Gen Cha bỏ xứ, Con bỏ nước ra đi vẫn c̣n tiềm ẩn trong tôi.

“Bố tôi bỏ quê An Thái, d́u dắt gia đ́nh di cư, xuống măi tận miền cực Nam của đất Việt định cư”.
“C̣n tôi phải bỏ nước ra đi, xuống măi tận miền cực Nam của Địa Cầu lập nghiệp”.

Nghĩ về quê hương xứ sở, thỉnh thoảng tôi mở DVD coi lại chương tŕnh Paris By Night, rồi ngâm nga, hát bản nhạc:

1954 Cha Bỏ Quê
1975 Con Bỏ Nước

Bản nhạc này, ca sĩ Elvis Phương đă hát cách nay trên 10 năm, để tưởng nhớ lại những ngày dời xa quê hương.

Một ngày Năm Bốn (54) Cha bỏ quê xa
Chốn đất chôn nhau, cắt rốn bao nhiêu đời

…………

Một ngày 54 Cha bỏ Đất Bắc vô Nam,
Dắt díu theo nhau, vô sống nơi Biên Ḥa

……

Một ngày Bảy Lăm (75) Con bỏ nước ra đi
Hai mươi năm là Hai lần ta biệt xứ

……

Và giờ này con lưu lạc nơi xứ lạ

……………..

Jo. Vĩnh
Lm. Dom Nguyễn Văn Quát

Nguồn : VietCatholic

.........................

Tư liệu Giáo xứ Nam Lỗ

Vài links liên quan đến Giáo xứ Nam Lỗ

Web Site Giáo Xứ : http://namlo.conggiao.net  Email : giaoxunamlo@gmail.com 

Kỷ yếu giáo xứ Nam Lỗ   Bấm vào đây

Video Kỷ yếu giáo xứ Nam Lỗ Bấm vào đây

Sơ lược Giáo Xứ - họ nhà xứ Bấm vào đây

Kỷ yếu, và hoạt động 11 Giáo họ - Giáo xứ Nam Lỗ Bấm vào đây

H́nh ảnh các họ giáo, thuộc Nam Lỗ Bấm vào đây

Hoan ca cảm tạ Bấm vào đây

Khu vực chia sẻ video Bấm vào đây

Khu vực h́nh ảnh chính  Bấm vào đây  hay Bấm vào đây

Các albums chia sẻ h́nh ảnh khác Bấm vào đây  (1)   (2)   (3)   (4)   (5)

Facebook  Bấm vào đây

Maps - Bản đồ Giáo Xứ Nam Lỗ, và 11 họ giáo thuộc giáo xứ Nam Lỗ   Bấm vào đây

Liên lạc với Giáo xứ Nam Lỗ

Liên lạc viên : TT Nam Lỗ - Jos Trần Đức Dũng : bantruyenthongnl@gmail.com 

Liên lạc viên 2 - Jos jHr : hoahairau@yahoo.com 

Liên lạc viên Úc Châu - Jos Vĩnh : jovinh_aussie@yahoo.com.au 

 

..............

Tư liệu của Giáo phận Thái B́nh

I - VỊ TRÍ

Nam Lỗ, c̣n gọi là Sổ, trước đây thuộc tổng Cao Mỗ, phủ Tiên Hưng, tỉnh Thái B́nh. Ngày nay, Nam Lỗ thuộc thôn Ái Quốc, xă Hợp Tiến, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái B́nh; cách Ṭa giám mục Thái B́nh khoảng 18 km về hướng Đông Bắc.
Ngày thành lập: 17.8.1908
Bổn mạng: Đức Mẹ Mân Côi
Số giáo dân : 1420 (9/2014)
Số giáo họ :  11 (9/2014)
Linh mục chính xứ: Phêrô Ch. Trần Duy Điển (9/2014)
Điện thoại: 036-358-3128
Địa chỉ: thôn Ái Quốc, xă Hợp Tiến, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái B́nh.

II - QUÁ TR̀NH H̀NH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN

Nam lỗ được các thừa sai Đaminh từ Sa Cát đến truyền giáo vào đầu thế kỷ thứ XVIII, rồi h́nh thành nên họ giáo thuộc xứ Sa Cát.

Năm 1908, Đức cha Phêrô Munagorri Trung chia Sa Cát thành 3 giáo xứ là Nam Lỗ, Sa Cát và Thái B́nh. Xứ Nam Lỗ gồm 17 họ trên địa bàn 13 xă của hai huyện Đông Quan và Tiên Hưng.

Năm 1929, Đức cha Phêrô Trung nâng Giáo họ Duyên Tục thuộc Nam Lỗ lên hàng giáo xứ và cắt giáo họ Duyên Trang và Kim Ngọc về đó. Năm 1932, Nam Lỗ lập thêm giáo họ Y Đún.

Sau 1954, họ giáo Lô Xá, Phú Điền và Kinh Môn thuộc xứ Nam Lỗ bị xoá sổ. Khi đó, Nam Lỗ chỉ c̣n 12 họ giáo, một đền Đức Mẹ Fatima, với 1.377 giáo dân rải rác trên bảy xă thuộc hai huyện Đông Hưng và Hưng Hà.

Thời kỳ bách hại đạo, Nam Lỗ có hai nơi giam giữ các Kitô hữu là Thổ Khối và Trinh Nguyên. Nhiều tín hữu đă bị xử tại đây. Nhờ gương sáng các vị tử đạo, người Thổ Khối đă xin ṭng giáo và thành lập Giáo họ Ngói.

Nam Lỗ là một trong những nơi đóng góp nhiều chứng nhân anh dũng tử đạo, có 14 Hiền phúc đă có hồ sơ làm án xin phong chân phước. Các ngài là những ngành lá thắm tưới trong vườn Vạn Tuế Thái B́nh.

Từ 1722 - 2008, Nam Lỗ đă xây dựng nhiều công tŕnh lớn như: nhà nguyện(1722), nhà thờ (1911), nhà giáo lư (2008).

Giáo xứ Nam Lỗ gồm có: Giáo họ Lác Làng, Lác Trại, An Thái, Hoàng Nông, Y Đún, Ngói, Khuốc, Tăng, Cốc, Sổ Làng và Giáo họ Phạm.

Từ năm 1908 -1954, Nam Lỗ có các cha coi sóc: cha Phêrô Trứ, cha Phêrô Thiêm, cha Tôma Vũ Nguyên Sùng, cha Giuse Khuông, cha Giuse Phạm Hữu Đoàn, cha Đaminh Đinh Đức Trụ.

Từ năm 1954 đến nay có các cha coi sóc: cha Vinh sơn Nguyễn Khắc Hiếu, cha Gioakim Trần Trọng Uyên, cha Gioan Baotixita Phạm Ngọc Châu, cha Giuse Bùi Văn Cẩm, cha Giuse Trần Đức Hạnh, cha Phêrô Nguyễn Kim Toàn, hiện nay là cha Đaminh Nguyễn Văn Quát.

Giáo xứ Nam Lỗ rất tự hào v́ đă cống hiến cho cánh đồng truyền giáo nhiều linh mục, tu sĩ đang phục vụ trong và ngoài giáo phận.

III - TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG

Giáo xứ Nam Lỗ được hưởng nhờ ḍng máu anh hùng tử đạo tại quê hương, v́ thế đời sống đức tin của giáo xứ luôn vững mạnh.

Các đoàn hội trong giáo xứ gồm có: hội Gia trưởng, hội Con Đức Mẹ, Huynh đoàn Đaminh, hội Kèn, hội Trống. Các đoàn hội tích cực hoạt động góp phần thăng tiến đời sống đức tin.


* Nguồn : Trang Web Giáo Phận Thái B́nh

 


H́nh ảnh nhà thờ Giáo xứ Nam Lỗ

H́nh ảnh Thánh lễ ban Bí tích Thêm sức tại Nhà thờ Giáo xứ Nam Lỗ (27/9/2015)

Nguồn : Trang Web Giáo Phận Thái B́nh

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

H́nh ảnh bổ sung xin gởi về
giaoxugiaohovietnam@Yahoo.com