Giáo phận Vĩnh Long

Nhà thờ Giáo xứ La Mă

 

Nhà thờ Giáo xứ La Mă
Giáo hạt Bến Tre

 

Địa chỉ : Ấp: 6, Xă Hưng Nhượng, Huyện Giồng Trôm, Tỉnh Bến Tre

Chánh xứ : Linh mục Thomas Trần quốc Hùng

Tel

0753 864 214

Website

http://www.ducmelamabentre.com/

E-mail

mhcglamabentre@gmail.com

Năm thành lập

 

Bổn mạng  

Số giáo dân

  400

Giờ lễ

Chúa nhật     : 

Ngày thường :

Các nhà thờ lân cận :  

Tư liệu :  Lược sử Giáo xứ - H́nh ảnh Giáo xứ 
                Lịch sử bức ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp La Mă
                Lịch sử họ đạo La Mă, Bến Tre (Lm Nguyễn Văn Khải, DCCT)
                Lịch sử họ đạo La Mă, Bến Tre (Ngô Ngọc Thắng)
                Nhà Thờ La Mă Tỉnh Bến Tre

-  Tin tức sinh hoạt

* Người Mẹ La Mă, Bến Tre (Lm Francis Lư văn Ca 8/10/2011)
* Lễ Đức Mẹ Mân Côi và kỷ niệm 61 năm Bức ảnh Mẹ Hằng Cứu Giúp tại họ đạo La Mă - Bến Tre (7/10/2011)  - H́nh ảnh

* Hành hương tạ ơn Đức Mẹ La Mă - Bến Tre (5/5/2009) - H́nh ảnh
* Viết Về Người Mẹ La Mă, Bến Tre (18/6/2008)
* Đức Mẹ hiện h́nh tại Họ La Mă, Bến Tre, Việt Nam (5/6/2008)
* Vài ḍng về sự tích Đức Mẹ hiện h́nh tại Họ La Mă, Bến Tre (Maria Vũ Loan6/16/2008 )

 

Lược sử Giáo xứ La Mă

Nguồn :  Trang Web GP Vĩnh Long

La Mă là tên Đức Cha Phêrô Ngô đ́nh Thục đặt cho một Họ Đạo mới được thành lập năm 1949, trước kia gọi là Bầu Dơi, thuộc làng Hiệp Hưng, tỉnh Bến Tre, miền Tây Nam Việt Nam. Bầu Dơi là một cánh đồng u minh đầy sông rạch, quanh năm ngập lụt, chỉ lưa thưa mấy xóm nhà lá nông phu nghèo nàn.

V́ chiến cuộc, nên bổn đạo Sơn Đốc kéo xuống Bầu Dơi lánh nạn. Một đêm trời tối, ông Biện Nguyễn văn Hạt lẻn về Nhà thờ Sơn Đốc đem bức ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp lồng kiếng về gửi tại nhà người con là anh Nguyễn văn Thành.

Ngày 2 tháng 2 năm 1950, quân đội Pháp bố ráp vùng Bầu Dơi, nhà anh Nguyễn văn Thành bị phá và bức ảnh Đức Mẹ bị mất

Ba tháng sau, một bà lăo theo đạo Cao Đài tên là Vơ thị Liềng đi xúc cá t́nh cờ gặp được bức ảnh dưới một con rạch. Bức ảnh c̣n đủ kiếng, nhưng đă phai hết mầu, không c̣n h́nh dáng ǵ hết, chỉ toàn mầu bùn lầy lấm lem. Bà lăo tri hô nên và nhiều người xúm lại. Họ biết đó là bức ảnh gởi nhà anh Thành. Anh Thành nhận bức ảnh đem về, nhưng v́ lem luốc nên dùng để che sương nắng nơi vách nhà thủng rách. Ông Biện Hạt thấy vậy, sợ bất kính nên đem bức ảnh về nhà ḿnh đặt trên tủ bàn thờ dưới tượng Thánh Tâm.

Lễ Đức Mẹ Mân côi, ngày 7 tháng 10 năm 1950, Bầu Dơi lại một lần nữa ch́m trong khói lửa, dân làng chạy trốn hết. Nhà ông biện Hạt cũng bị bắn phá tan nát, nhưng ông và người con út tên Trọng, mười bốn tuổi, không kịp chạy nên đành nằm núp dưới vách lá sau tủ thờ. Hai cha con kêu cầu Đức Mẹ luôn miệng. Sau cơn bố ráp, ông Hạt và con trai chạy ra thấy cột kèo xiêu đổ, nhà bị đạn xuyên tứ phía, duy có bàn thờ là không sao. Hai cha con thoát chết đến trước bàn thờ cám ơn Đức Mẹ. Ôi lạ quá! Bức ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp ở dưới bùn hơn ba tháng đă phai nhạt hết, nay phút chốc lộ h́nh ra tốt đẹp và xinh tươi lạ lùng, ngoại trừ hai mũ triều thiên th́ đến ngày 15 tháng 8 năm 1951 lễ Đức Mẹ Mông Triệu mới lộ rơ. Dân làng tuôn đến xem sự lạ đều sửng sốt.

Các giáo hữu bàn tán rất sôi nổi về bức ảnh lạ nhiều người đem ḷng tin. Cha Luca Sách, cha sở Họ Cái bông dè dặt rước bức ảnh về Nhà thờ họ Cái Bông. Đến ngày 20 tháng 6 năm 1951, sau khi đă trang hoàng lại Nhà Thờ, bổn đạo rước Đức Mẹ về lại La Mă cách trọng thể, có cả tín đồ các giáo phái khác cùng tham dự.

Tiếng lành đồn xa, giáo hữu các nơi đua nhau đến kính viếng Đức Mẹ. Nhiều ơn lạ đă được thông ban. Một ngôi Thánh Đường khang trang mọc lên giữa vùng đồng chua nước mặn. Một bầu không khí đạo hạnh bao phủ khắp miền, minh chứng hùng hồn cho sự hiện diện đầy t́nh Mẫu tử yêu thương của Đức Mẹ.

Trong ba ngày khánh hạ (ngày 11, 12, 13 tháng 1 năm 1957), năm vị Giám mục, hằng trăm linh mục và tu sĩ, hàng vạn giáo hữu và rất nhiều người vị vọng đă đến chầu Đức Mẹ. Người hành hương ra về, ḷng tràn ngập niềm tin tưởng vô biên vào ḷng từ ái vô cùng của Đức Mẹ. Nhiều đồng bào bên lương cũng được Đức Mẹ ban trợ các ơn lành hồn xác, v́ thế đă có nhiều người xin ṭng giáo. Họ đạo La Mă trước đây chỉ vỏn vẹn có năm mươi nhân danh mà nay đă tăng lên hơn năm trăm .

Mẹ thật là Nữ Vương Việt Nam .

(Trích từ mục : Đức Mẹ La Mă , trang 299-301, trong Từ Điển Đức Mẹ)

CÁC TRÀO CHA SỞ:

1955 - 1962 : Cha Phêrô Trần hữu Dư mua của Bà Tăng thị Tư (điền chủ) 3 Ha 50 ruộng để xây dựng Nhà Thờ La mă ; Nhà thờ được Khánh thành năm 1957 và rất đông người Hành hương đă đến viếng Đền Đức Mẹ.

1962 - 1965 : Cha Gioakim Nguyễn văn Quang vừa được tấn phong Linh Mục về nhận Họ trong 3 năm , sau đó chuyển đi làm Cha Sở Cái bông.

1965 - 1974 : Cha Vincentê Nguyễn ngọc Thanh làm Cha Sở trong hoàn cảnh chính trị rối ren, nhưng vẫn tổ chức được nhiều buổi Tĩnh tâm và Hành hương tại Đền ĐM La Mă.

8/1975 : Cha Nguyễn hữu Lễ đến chỉ ược mấy tháng rồi phải ra đi...Họ Đạo vắng Cha, không có sinh hoạt Mục vụ...

1977 - 1989 ; toàn bộ khu vực Nhà thờ phải giao cho Trường Bổ túc Công Nông (con Liệt sĩ) quản lư, không một giáo dân nào có thể tới gần ! Thánh Đường hoang phế, nhà cửa tan hoang...

1989 - 1991 : Cha Antôn Nguyễn văn Lệ từ An Điền về làm Sở Ba Châu và phụ trách La Mă. Trường Bổ túc Công Nông giải thể, cha cho lợp tạm lại Nhà thờ bằng Fibro và xin phép cho sinh hoạt tôn giáo trở lại .. .

1991 - 2006 : Cha Gioakim Nguyễn văn Quang, Cha Sở Cái bông, kiêm nhiệm họ La Mă... Họ đạo không có Linh mục thường trú, chỉ có các D́ Cái Mơn coi sóc Nhà thờ...Các đoàn Hành hương bắt đầu trở lại viếng Đức Mẹ.

2006 -... : Cha Thomas Trần quốc Hùng, tu sửa, lót gạch và sơn mới toàn bộ Nhà Thờ, cùng xây mới Nhà D́ và Nhà Khách để kỷ niệm 50 năm Khánh thành Đền Đức Mẹ.

 

......................................................

Họ đạo La Mă hiện nay giống như một con thuyền vừa cập bến sau những chặng đường thăng trầm đầy sóng gió và băo tố, có những lúc tưởng như con thuyền không về lại bến cũ. Nhưng nhờ hồng ân Chúa ban qua lời chuyển cầu của Đức Maria Hằng Cứu Giúp, từ biết bao nhiêu lời cầu nguyện, ngày đêm th́ thầm van nài khấn xin. Nên thuyền đă vượt qua cảnh lầm than để về đến bến quê b́nh an. Sau đây là vài nét khái quát những diễn biến trong lịch sử, để h́nh thành họ đạo La Mă từ năm 1930 cho đến ngày hôm nay.

 

NHÀ THỜ LA MĂ XƯA VÀ NAY

1. Nhà Nguyện Sơn Đốc

Vào năm 1930, cha sở họ đạo Cái Bông, lúc bấy giờ là cha Luca Sách, giao cho thầy giúp xứ Phêrô Niềm, lên khu vực gần chợ Sơn Đốc dựng lên một căn nhà lá, để làm nơi dạy giáo lư và đây cũng là điểm truyền giáo đầu tiên của vùng nầy.

Nhờ ơn Chúa, kể từ ngày đó hạt giống đức tin trong căn nhà lá của thầy Phêrô Niềm, đă âm thầm ươm mầm và triển nở. Ba tháng sau, có 10 gia đ́nh gồm khoảng 50 người lớn, nhỏ đă lănh nhận bí tích rửa tội để trở thành Kitô hữu, trong đó có gia đ́nh ông Hạt. Đây là mùa gặt thiêng liêng đầu tiên của cư dân vùng Sơn Đốc.

Tháng ngày trôi qua, một ngôi nhà nguyện đơn sơ nhỏ bé bằng lá vách phên, được dựng lên trên khu đất của ông Từ Thôn. Dịp nầy, cha sở Cái Bông cũng đă tặng cho nhà nguyện Sơn Đốc một bức ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp lồng trong khung kính, đặt trong nhà nguyện. Đây chính là bức linh ảnh đi vào lịch sử mà chúng ta sẽ t́m hiểu chi tiết hơn sau nầy.

2. Nhà Nguyện Bàu Dơi

Năm 1946, tỉnh Bến Tre mất, quân Pháp được trang bị đầy đủ với thuỷ, lục, không quân mở những cuộc ruồng bố ác liệt và điên cuồng:  Đụng đâu bắn đó, thấy ǵ cũng bắn. Người dân quá sợ hăi, chạy t́m những nơi xa thị tứ và đồn bót để lánh nạn.

Số giáo dân ít ỏi của Sơn Đốc cũng lâm vào t́nh cảnh đó. Họ phải rời bỏ nơi chôn nhau cắt rốn của ḿnh để chạy đi lánh nạn trong một vùng đồng mông hiu quạnh gọi là Bàu Dơi.

Bàu Dơi là một cánh đồng trũng hoang vu mênh mông, sông rạch chằng chịt, cách chợ Sơn Đốc khoảng 2 km nằm ở phía trong, gần với sông Hàm Luông. Lúc  đó, ấp Bàu Dơi thuộc làng Hiệp Hưng, tổng Bàu Phước, quận Ba Tri, tỉnh Bến Tre.

Đến Bàu Dơi, sau cơn hoảng loạn v́ chiến cuộc, ông Hạt mới sực nhớ là khung ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp vẫn c̣n để lại trong nhà nguyện Sơn Đốc. Tuy ông Hạt cũng là một trong những người đầu tiên ở Sơn Đốc được biết Chúa, nhưng  v́ ḷng sốt sắng và đức tin mạnh mẽ, ông đă được cha Luca Sách tin tưởng và giao cho chức Biện.

Có lẽ v́ nghĩ đến trọng trách của ḿnh, nên trong một đêm tối trời, ông bạo gan băng đồng lội ruộng từ Bàu Dơi ra Sơn Đốc với biết bao sự nguy hiểm có thể đe doạ đến tính mạng của ḿnh. Ông âm thầm vào nhà nguyện lấy khung ảnh Đức Mẹ mang theo và tức tốc trở về Bàu Dơi ngay trong đêm.

Những tháng ngày lánh nạn ở Bàu Dơi, bà con giáo dân không c̣n hy vọng  sẽ có ngày quay trở lại Sơn Đốc. Trong nỗi niềm thao thức mong muốn có một nơi để sớm hôm kinh sách nguyện cầu, bà con giáo dân cùng tiếp tay với thầy Cai tổng  Sự - một người mới trở lại đạo Chúa - cất lên một nhà nguyện khác ở Bàu Dơi, cũng bằng mái lá vách phên giống như ở Sơn Đốc.

Mẹ lại hiện diện giữa con cái của Mẹ với ánh mắt tŕu mến nhưng không kém phần lắng lo. Một cái nh́n xa xăm ẩn chứa nỗi u buồn tưởng như vô tận. Mẹ muốn cảm thông, chia sẻ và gánh bớt những đau khổ đang oằn nặng trên vai chúng dân.

3. Nhà Thờ Cái Sơn

Đến năm 1948, chiến tranh lan tới Bàu Dơi, một lần nữa bà con giáo dân lại phải chạy đi nơi khác t́m nơi lánh nạn. Lần nầy, họ chạy ngược lên họ đạo Cái Sơn. Thuở đó, Cái Sơn là một họ đạo lớn, do cha Phêrô Trần Hữu Dư làm cha sở, cách Bàu Dơi khoảng 20km về hướng đầu nguồn sông Hàm Luông, thuộc xă Lương Phú, huyện Giồng Trôm.

T́nh h́nh tạm lắng dịu, dân chúng lại chèo chống trở về Bàu Dơi. Trong giai đoạn nầy, theo nguyện vọng của bà con giáo dân, cha sở họ đạo Cái Sơn là Phêrô Dư chịu lănh coi sóc con chiên họ Bàu Dơi, và thỉnh thoảng Ngài đến lo các phép bí tích cho họ. Có thể nói, đây cả là một sự hy sinh rất to lớn và đáng khâm phục của cha Phêrô trong thời kỳ đó, v́ phương tiện giao thông thiếu thốn, đường xá th́ xa xôi cách trở, c̣n giao tranh luôn có thể xảy đến bất cứ lúc nào.

4. Ngày Lịch Sử Của Họ Đạo Bàu Dơi

Ngày 11.11.1949, trong dịp đi thăm viếng mục vụ và ban phép bí tích Thêm sức tại họ đạo Cái Sơn, ĐGM Giáo phận Vĩnh Long lúc bấy giờ là Đức cha Phêrô Mtinô Ngô Đ́nh Thục biết được t́nh cảnh quá sức bi đát đă xảy ra cho con chiên của ḿnh ở họ đạo Bàu Dơi, Ngài đă thân hành đi đến đó để thăm hỏi, an ủi và ban phép lành cho họ.

Chính ngày hôm đó cũng đă đi vào lịch sử, khi Đức cha Phêrô đă truyền đổi tên Bàu Dơi thành La Mă, với ngụ ư: giống như các Kitô hữu ở La Mă trong thời kỳ đầu của lịch sử Công giáo, cũng đă trải qua biết bao nhiêu đau thương, tang tóc và khổ nhục trăm bề, để có ngày vui hưởng hạnh phúc trong vinh quang muôn đời.

Kể từ ngày đó, nhà thờ họ đạo Bàu Dơi xưa kia, nay được khoác lên ḿnh một tên gọi mới huy hoàng và tráng lệ hơn: NHÀ THỜ LA MĂ

Ngô Ngọc Thắng sưu tầm và tổng hợp
 

.........................................

Bầu Dơi là một cánh đồng rộng mênh mông đă được khai phá, chằng chịt sông rạch, với những cḥm cây lưa thưa, với ít xóm nhà lá của nông dân. Bầu Dơi là ấp của làng Hiệp Hưng, tổng Bàu Phước, quận Ba Tri, tỉnh Bến Tre nằm phía sau một ngôi chợ nhỏ gọi là chợ Sơn Đốc, cách tỉnh lụy Bến Tre 24km.

Phần đông dân chúng theo Phật giáo hoặc đạo ông bà. Năm 1925 đạo Cao Đài đă lập thánh thất.

Năm 1930 hạt giống Phúc Âm mới được gieo vào vùng xa xôi này. Một người trong đó có ông Hạt và gia đ́nh đă đến Cái Bông gặp cha Luca Sách xin ṭng giáo. Cái Bông là họ đạo có từ thời Nguyễn Ánh, nằm cách Sơn Đốc 7 km.

Cha Luca Sách với sự hợp tác của thầy Phêrô Niềm đến Sơn Đốc cất một nhà dạy giáo lư. Ba tháng sau 10 gia đ́nh gồm 50 người lớn bé được chịu phép Rửa tội. Đó là mùa gặt thiêng liêng đầu tiên trên cánh đồng Bầu Dơi. Điều tất yếu của một họ đạo là ngôi nhà nguyện, để giáo dân hôm sớm họp nhau đọc kinh và tham dự Thánh lễ một đôi lần. Giáo dân góp công, góp của xây dựng một ngôi nhà nguyện nhỏ, mái lá vách phên, trên khu đất của ông từ Thôn. Cha sở Cái Bông tặng một ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp lồng trong khung kính đặt trong nhà nguyện.

Năm 1946 quân kháng chiến ta hô hào khẩu hiệu (tiêu thổ kháng chiến) và rút vào bưng hoặc nằm vùng giữa dân chúng. Người dân lâm cảnh khổ cực giữa 2 luồng đạn, ở cũng khổ mà đi không yên. Tỉnh Bến Tre mất, những cụ ruồng bố có đủ thủy lực không quân của quân đội diễn chinh Pháp bắt đầu diễn ra. Người dân quá sợ t́m nơi xa đồn bót để lánh nạn.

Bổn đạo Sơn Đốc cũng như những người khác đùm túm áo quần gạo muối, dắt vợ cơng con tản cư về miền Bầu Dơi, ở phía sau cách chợ Sơn Đốc 2 km. Ở đó cũng chưa gọi là yên, mỗi khi nghe có tiếng động cơ máy bay hay tàu th́ không ai bảo ai, mọi người nhào xuống hầm núp… Ngày nào cũng như ngày nấy. T́nh trạng kéo dài. Hết công làm ăn ǵ được. Kẻ bỏ đi muốn về thăm lại tổ ấm phải về ban đêm.

Giáo dân di tản vẫn không quên di ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp c̣n ở lại trong nhà nguyện mái lá vách phên hiu quạnh giữa hoang vu. Và một đêm mờ mịt, ông biện Hạt đánh bạo lén về viếng nhà thờ và đem tượng ảnh giấy Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp về Bầu Dơi. Ông Hạt ôm ảnh về nhà con ḿnh tên là Thành để ngày đêm khấn xin Đức Mẹ thương cứu giúp. Cũng như các giáo hữu trên thế giới, giáo dân Việt Nam đặt tất cả ḷng cậy trông tin tưởng vào Đức Mẹ.

Ngày tháng trôi qua giáo dân không c̣n mong được trở về hội họp đọc kinh sách trong nhà thờ Sơn Đốc nữa. Họ liền tiếp tay với cai tổng Sự, một người mới ṭng giáo cất một nhà thờ bằng lá nhỏ, để hôm sớm có nơi kinh nguyện.

Năm 1948 Bầu Dơi lại bị một trận ruồng bố. Giáo dân lại bỏ cḥi chạy nữa. Lần này chạy xa hơn, chạy thẳng lên họ Cái Sơn lánh nạn quan cơn ruồng bố. Cha sở Cái Sơn là cha Phêrô Dư.

T́nh h́nh tạm lắng dịu giáo dân kéo về và khẩn khoản xin cha Dư nhận lănh lo cho họ Bầu Dơi, thỉnh thoảng đến cho họ được các bí tích.

Ngày 11-11-1949 Đức Cha Phêrô Ngô đ́nh Thục từ Vĩnh Long đến ban phép thêm sức cho họ đạo Cái Sơn, nghe biết t́nh cảnh giáo dân họ Bầu Dơi, ngài vượt khó đến thăm viếng và chúc lành họ đạo. Ngài bổ nhiệm cha Phêrô Dư cha sở Cái Sơn kiêm luôn họ Bầu Dơi. Đồng thời thấy tận mắt cảnh khổ của giáo dân và ḷng nhiệt thành cao độ của họ đạo, Đức cha truyền đổi họ Bầu Dơi thành họ đạo La Mă, một danh xưng đầy ư nghĩa, hướng về dĩ văng huy hoàng của Giáo hội mà cũng hàm ư hy vọng về tương lai.

La Mă danh xưng mới đi dần vào thói quen dân chúng; họ đạo Bầu Dơi trở thành họ đạo La Mă.

Sự lạ La Mă

Ngày 02-02-1950 xăy ra một vụ đụng độ lớn trong vùng. Giáo dân bỏ chạy tán loạn. Sau trận ruồng bố họ trở về thấy cảnh nhà cửa tan hoang. Nơi nhà nguyện trưng bày ảnh Đức Mẹ cùng chung số phận và ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp biến đâu mất. Theo tài liệu nghe được th́ chính ông Thành từng giữ nhà thờ hay một giáo dân nào đó đă mang ảnh Đức Mẹ theo. Giữa đường gặp trận chiến ác liệt quá, vội quăng tượng Đức Mẹ xuống rạch để thoát cho nhanh (tài liệu này có người không đồng ư, nhưng chưa gặp được tài liệu chính xác hơn).

Ngày 05-5-1950 một bà già theo đạo Cao Đài tên là Vơ thị Liễng hay Sáu Liễng, b́ bơm theo con rạch để xúc cá, đụng phải khung ảnh nằm dưới bùn. Khung ảnh được vớt lên. Khung kiếng vẫn c̣n nguyên nhưng tượng ảnh đă phai màu hết, chỉ thấy sắc xám lem lét bùn và có nhiều lỗ rách. Bà già tri hô, nhiều người chạy ra xem. Ông Thành cũng đến, xin lại khung ảnh, đem về… treo ngay đầu hè để che nắng đỡ mưa. Nhà ông đă tan nát, c̣n ảnh tượng th́ đen thui thủi… đầy bùn dơ, c̣n ǵ nữa mà kính thờ !

Ông biện Hạt cha ruột của anh Thành đến nhà thăm con, mắng con một mẻ v́ bất kính. Vốn sợ tội, ông đem bức ảnh về nhà, đặt trên tủ thờ trước tấm vách lá giữa nhà.

* Ngày 07-10-1950 lại một cuộc lùng rát diễn ra bất ngờ. Theo con rạch một chiếc tàu nhỏ của Pháp tiến vào bắn phá lung tung. Ông Hạt và người con trai Út tên là Trọng chạy không kịp, vội ẩn núp dưới tấm vách lá sau bàn thờ. Tiếng súng vừa êm, ông chạy ra trước tủ thờ để cám ơn Chúa và Đức Mẹ cho tai qua vạ khỏi. Ông khựng lại, nhà ông cũng nhưng bao nhà khác bị đạn xuyên qua tơi bời, duy chỉ có bàn thờ và tấm vách lá sau bàn thờ c̣n nguyên vẹn. Ông nh́n lên bàn thờ và sửng sốt: Bức ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp ở dưới bùn hơn 3 tháng, phai nhạt hết h́nh, nay bỗng dưng nổi h́nh lên rơ ràng xinh đẹp lạ thường. Hai cha con vừa chứng kiến một phép lạ. Ông la lên: Phép lạ ! Phép lạ ! cả xóm vừa hồi cư, ḿnh mẩy c̣n ướt mèm chạy đến nhà ông Hạt. Tất cả đều nh́n thấy: Ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp mấy tháng trước mất hẳn h́nh, nay lộ rơ lại, duy 2 mũ triều thiên trên đầu Đức Mẹ và Chúa c̣n lu mờ. Hai mũ triều này đến ngày 15-8-1951 lễ Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời mới lộ rơ.

Hai d́ phước cũng được chứng kiến và nói với ông Hạt: "Đây là một phép lạ, khi vớt Ảnh lên mục nát mờ phai, bây giờ nổi lên rơ ràng tốt đẹp thế này, thật là Đức Mẹ thương ông lắm".

Sự lạ đồn ra mau chóng. Giáo dân cũng như mọi người rất hồi hởi. Cha Luca Sách, cha sở Cái Bông, người trước đây đă dâng tặng mẫu Ảnh Đức Mẹ cho nhà thờ Sơn Đốc, với sự dè dặt thường lệ, đă rước Ảnh Mẹ về đặt tại nhà thờ Cái Bông cho đến ngày 20-6-1951. Trong thời gian đó, cha Phêrô Dư sửa chữa trang hoàng lại nhà thờ La Mă để rước Ảnh Mẹ về lại. Người nới rộng nhà nguyện, xây thêm nhà cha sở nhưng tất cả cơ sở đều lợp lá nghèo nàn.

Cha Phêrô Dư cha sở Cái Sơn kiêm La Mă, quyết định với phép Giám mục, tổ chức cuộc rước Ảnh Đức Mẹ từ Cái Bông trở về La Mă, với sự tham dự của giáo dân trong vùng (Ba Tri, Cái Bông, Cái Sơn). Để dọn ḷng giáo dân nghênh đón Ảnh lạ, cha Fx Trần Tử Nhăn Ḍng Chúa Cứu Thế Sài G̣n được mời về giảng tam nhật và ngày kiệu Linh Ảnh về La Mă 20/6/1951. Cuộc rước được tổ chức rất trọng thể, có các tôn giáo khác trong vùng tham dự.

Ngày 20-6-1951 lúc 12 giờ trưa, mây đen nghịt trời, mưa đổ nặng hạt. Cuộc rước dự định khởi hành lúc 3 giờ. Trời vẫn mưa, nếu dời nữa th́ khi đến La Mă trời sẽ tối, khách hành hương lại không thể qua đêm ở La Mă… 3 giờ bỗng trời hoang đăng. Ảnh Mẹ được đặt trên 1 chiếc xe, có hàng trăm xe đạp gắn cờ xanh trắng tháp tùng hướng về Sơn Đốc. Đến chợ, một đoàn ghe xuồng chờ sẵn, đón bàn kiệu đặt trên 1 chiếc xuồng máy. Theo sau là ghe xuồng chở khách hành hương từ từ xuôi theo con rạch, hướng về nhà thờ La Mă. Phần lớn giáo dân đi bộ đến trước, ứng trực đón bàn kiệu Đức Mẹ.

Từ ngày đó khách hành hương đổ về La Mă ngày càng đông. Với phép Đức Giám mục Ảnh Đức Mẹ được cung nghênh đi một vài nơi để giáo dân tôn vinh và kính viếng.

Ngày 15-8-1951 lễ Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời, cha Phêrô Dư cung nghênh Ảnh Mẹ về họ Cái Sơn. Một tuần chính ngày được tổ chức để dọn tâm hồn, một cuộc rước kiệu xung quanh nhà thờ và bế mạc bởi một Thánh lễ.

Trong dịp này hàng ngàn người có mặt được chứng kiến Mũ Triều thiên lộ hiện ra trên đầu Đức Mẹ và Chúa Hài Đồng. Một điều lạ nữa: Khi bức Ảnh vớt lên, ảnh gắn chặt vào kiếng, có nhiều lỗ thủng. Bây giờ, chân dung Mẹ hiện ra rất xinh đẹp và các lỗ thủng cũng biến mất.

Người ta chú ư đến một bậc vị vọng đă âm thầm đến hành hương. Đó là Đức cha Ngô đ́nh Thục, Giám mục Vĩnh Long. Ngài đi với hai linh mục ngày 12-01-1952 đến La Mă. Khi ở nhà thờ ra, ngài hỏi cha Phêrô Dư: "Trên đầu Đức Mẹ có Mũ Triều thiên từ bao giờ ? Lần trước tôi có thấy đâu ?". Cha Phêrô Dư thuật lại câu chuyện xảy ra hôm 15-8-1951 tại Cái Sơn. Và, phải chăng trong dịp đó, Đức cha quyết định lập Ủy ban để cứu xét về "sự lạ La Mă". Ủy ban gồm một số linh mục triều và Ḍng.

Ngày 20-10-1952, Bức Ảnh Mẹ được đưa về Cái Bông và khai mạc cuộc điều tra. Những người có liên hệ được mời làm nhân chứng, những người được ơn Đức Mẹ cũng được mời bày tỏ. Hồ sơ điều tra được phúc tŕnh về Ṭa Thánh. Đức Giám mục Vĩnh Long ban huấn dụ cho phép kính viếng Ảnh Đức Mẹ hiện h́nh tại nhà thờ họ La Mă (Bến Tre) và tổ chức các cuộc hành hương. Đức Giám mục cũng chỉ định cha Phêrô Dư làm chánh sở ở luôn tại La Mă. Như vậy là giáo quyền đă mặc nhiên nh́n nhận sự kiện La Mă.

Giáo dân từ nhiều nơi, nhất là từ Sài G̣n "lặn lội" t́m về chiêm ngưỡng và cầu xin với Đức Mẹ, mà từ đây được mệnh danh là "Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp La Mă".

Ngay từ buổi đầu khi sự kiện được đồn ra, cha Hồng Phúc dcct đă tổ chức đoàn hành hương đầu tiên đến La Mă Bến Tre, Hiệp Hội Thánh Mẫu của trường Taberd Sài G̣n cũng tổ chức một cuộc hành hương đến kính viếng và chiêm ngưỡng sự lạ Đức Mẹ lộ h́nh. Một sinh viên của Hiệp Hội thời ấy và ngày nay là một bác sĩ đang hành nghề ở Los Angeles, là người có ḷng sùng kính Đức Mẹ. Vừa rồi, ông đă trở về Việt Nam, viếng thăm La Mă và mang lại nhiều tài liệu và h́nh ảnh độc đáo mà chúng tôi sử dụng trong bài viết này.

Riêng chúng tôi đă đến La Mă ba lần để kính viếng Đức Mẹ. Lần đầu vào năm 1952, h́nh ảnh mới lộ hiện, khuôn mặt Mẹ và Chúa Hài Đồng rất xinh đẹp, sắc sảo. Lần thứ hai, một năm sau, hai thiên thần và nếp áo buông rũ lộ hiện rơ rệt với màu sắc sống động. Lần thứ ba, trong cuộc hành hương lớn của họ Chợ Quán như sẽ nói sau.

Ông Nguyễn văn Hạt, người được chứng kiến đầu tiên là một giáo dân chất phác, "một người Israel không có ǵ gian dối" (Ga 1,47) có sao nói vậy. Ông thuộc nhóm người Bầu Dơi đầu tiên được biết Chúa với một đức tin mạnh mẽ, một ḷng nhiệt thành tông đồ. Ông cũng đă xây dựng nhà thờ đầu tiên Sơn Đốc nơi đặt Mẫu Ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp, và nhà thờ mái lá vách phên Bầu Dơi, nay là La Mă, nơi ảnh Đức Mẹ được an vị, sau khi phép lạ lộ h́nh xảy ra năm 1950.

Một tờ báo Công giáo ở Sài G̣n đă phỏng vấn ông hai lần xa nhau về sự lạ La Mă. Cả hai lần ông đều kể lại mọi chi tiết giống hệt nhau, không thêm bớt với lời văn thô sơ b́nh dân của ông.

La Mă trở thành một trung tâm thành kính của giáo hữu khắp nơi. Bức Ảnh Đức Mẹ được cung nghênh về an vị trong cung nhà thờ mái lá vách phên. Tuy nhiên nhiều phái đoàn từ khắp nơi luân phiên đến kính viếng. Đức Mẹ đă ban nhiều ơn hồn xác. Theo lời nhiều người thuật lại, đồng bào bên lương được Đức Mẹ ban nhiều ơn hơn bên Giáo. Họ La Mă trước đây chỉ có hơn 50 nhân danh nay đă lên quá 500. Nhiều người thuộc ấp Hương Lễ đă mời cha sở La Mă đến viếng thăm và xin ṭng giáo. Ông Khá là người lái đ̣ ai cũng biết, bị hư mắt được Đức Mẹ chữa lành, đă trở lại đạo và tiếp tục là "người lái đ̣ đưa người sang sông của Đức Mẹ".

Tại nơi bà Sáu Liễng người Cao Đài t́m thấy khung ảnh, một đài kĩ niệm được xây lên giữa ḍng nước với hàng chữ: "nơi gặp ảnh Mẹ".

Làn sóng hành hương tấp nập đổ về, cha sở La Mă Phêrô Dư, nhờ đó đă có phương tiện xây được ngôi thánh đường xinh xinh, dài 35m, rộng 16m với tháp cao 19m vươn lên giữa mây trời. Lễ khánh thành thánh đường La Mă cử hành trong 3 ngày 12 – 13 -14 tháng giêng năm 1957 có sự tham dự của 5 Giám mục, hàng trăm linh mục, tu sĩ nam nữ và hàng vạn người lương giáo.

La Mă trở thành trung tâm hành hương thứ ba của Việt Nam.

La Mă ngày nay

Tuy là một trong ba trung tâm hành hương của Giáo phận Vĩnh Long nhưng chưa có chương tŕnh tổ chức định kỳ. Nay họ đạo La Mă Bến Tre đang được một cha Ḍng Chúa Cứu Thế trông coi. Hàng tuần có Thánh lễ.Các đoàn hành hương nếu được thông báo trước cha sẽ lo liệu cho có Thánh lễ. Thỉnh thoảng vào những dịp quan trọng các cha trong giáo hạt Bến Tre về đây đồng tế.

La Mă có bề dày lịch sử nửa thế kỷ nên có nhiều người đă biết, nay nhớ lại đă về kính viếng khá đông. Ṭa Giám mục rất quan tâm đến trung tâm này.

Đường về La Mă nay rất dễ dàng, chỉ c̣n 2km đường hẹp xe ôtô chưa vào được.

Ngôi nhà thờ quư vị thấy trên đây không c̣n được như xưa nhưng có nhiều phần đă xuống cấp, tuy được sửa chữa nhiều lần với kinh phí hẹp. Các cơ sở khác cũng đă được tạm sửa chữa để khách hành hương có thể yên tâm đến.

(Viết theo tài liệu của Lm Hồng Phúc DCCT, và Lm Trần Quốc Hùng dcct hiện đặc trách Họ đạo La Mă Bến Tre)

Lm Nguyễn Văn Khải, DCCT

.................

Nhà Thờ La Mă Tỉnh Bến Tre

Nguồn : http://www.ducmelamabentre.com

Nhà thờ La Mă nằm trên địa bàn ấp Bàu Dơi, xă Hưng Nhượng, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Nhà thờ La Mă cách thành phố Bến Tre khoảng 26 km về phía hạ nguồn sông Hàm Luông. Nhà thờ La Mă hiện nay là một họ đạo nhỏ, có khoảng 350 giáo dân, chưa có nhà xứ.

1. Tỉnh Bến Tre – Vị Trí Địa Lư

Bến Tre là một trong 12 tỉnh thuộc đồng bằng miền Tây Nam Bộ, nằm ở hạ nguồn sông Cửu Long. Tỉnh Bến Tre nằm ở vị trí địa lư như sau: Phía Đông giáp với biển Đông, phía Tây giáp tỉnh Vĩnh Long, phía Nam giáp tỉnh Trà Vinh và phía Bắc giáp tỉnh Tiền Giang.

Tỉnh Bến Tre được h́nh thành và nằm trọn trong ba cù lao là: Cù lao An Hóa, cù lao Bảo và cù lao Minh, do bốn con sông lớn chảy ngang qua là sông Tiền, sông Ba Lai, sông Hàm Luông và sông Cổ Chiên. Riêng sông Tiền, đoạn sông chảy ngang qua Mỹ Tho nên c̣n gọi là sông Mỹ Tho. Bốn con sông này cũng là ranh giới tự nhiên chia cắt ba cù lao trên của tỉnh Bến Tre.

Cù lao đầu tiên của tỉnh Bến Tre là cù lao An Hóa, trước năm 1948 thuộc về Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang. Cù lao này nằm giữa hai con sông Mỹ Tho và Ba Lai, giáp ranh với tỉnh Tiền Giang. Cù lao An Hóa gồm một phần huyện Châu Thành và huyện B́nh Đại. Sông Tiền sau khi chảy ngang qua huyện B́nh Đại đổ ra Biển Đông, nơi cửa biển gọi là Cửa Đại.

Cù lao thứ hai là cù lao Bảo, nằm giữa hai con sông Ba Lai và sông Hàm Luông. Sông Ba Lai là ranh giới tự nhiên chia cắt cù lao An Hóa và cù lao Bảo, sông Ba Lai khi chảy ra Biển Đông, nơi cửa biển gọi là Cửa Ba Lai. Cù lao Bảo gồm có phần c̣n lại của huyện Châu Thành, thành phố Bến Tre, huyện Giồng Trôm và huyện Ba Tri.

Cù lao thứ ba và là cù lao cuối cùng thuộc tỉnh Bến Tre là cù lao Minh, nằm giữa hai con sông Hàm Luông và sông Cổ Chiên. Sông Hàm Luông là ranh giới tự nhiên chia cắt cù lao Bảo và Cù lao Minh. Sông Hàm Luông khi chảy ra Biển Đông, nơi cửa biển gọi là cửa Hàm Luông. Cù lao Minh gồm có các huyện: Chợ Lách, Mỏ Cày Bắc, Mỏ Cày Nam và huyện Thạnh Phú. Cù lao nầy giáp ranh với hai tỉnh Trà Vinh, Vĩnh Long. Sông Cổ Chiên làm ranh giới tự nhiên.

Cửa Đại của sông Tiền, c̣n gọi là sông Mỹ Tho, Cửa Ba Lai của sông Ba Lai và Cửa Cổ Chiên của sông Cổ Chiên đều thuộc hệ thống sông Tiền, là 3 cửa trong số 9 cửa của ḍng sông Cửu Long đổ ra Biển Đông.

Từ bao đời nay, tỉnh Bến Tre bị cô lập hoàn toàn bởi những con sông lớn của ḍng Cửu Long như đă nêu trên, nên mọi việc lưu thông ra vào tỉnh đều phải sử dụng một phương tiện duy nhất là phà. Có những bến phà lớn tồn tại qua hàng thế kỷ và được nhiều người biết đến như phà Rạch Miễu, nối từ quốc lộ 1A thuộc tỉnh Tiền Giang để qua tỉnh Bến Tre. Phà Hàm Luông nối cù lao Bảo và cù lao Minh. Phà Cổ Chiên nối từ cù lao Minh thuộc tỉnh Bến Tre, qua sông Cổ Chiên để đến tỉnh Trà Vinh và c̣n nhiều nhiều bến phà khác nữa.

V́ là vùng cù lao với hệ thống sông rạch chằng chịt, nên ngoài những bến phà, c̣n có hàng trăm bến đ̣ dọc, bến đ̣ ngang, nằm rải rác trên các con sông lớn, nhỏ. Những chiếc “trẹt”có h́nh dạng như chiếc phà nhỏ, dùng để đưa khách bộ hành và xe 2 bánh lưu thông qua lại trên khắp các địa phương trong toàn tỉnh.

Tuy nhiên, kể từ năm 2009, tỉnh Bến Tre đă hoàn toàn thay da đổi thịt, sau khi có cầu Rạch Miễu bắt ngang qua sông Tiền thay cho phà Rạch Miễu, nối liền hai bờ Tiền Giang và Bến Tre, cầu Hàm Luông bắt ngang qua sông Hàm Luông nối liền thành phố Bến Tre và cù lao Minh, gồm các huyện Chợ Lách, Mỏ Cày Bắc, Mỏ Cày Nam và huyện Thạnh Phú.

Ngoài ra c̣n phải nói đến đường cao tốc Sài G̣n – Trung Lương, đă góp phần đáng kể rút ngắn thời gian di chuyển và vận tải hàng hóa, làm cho Bến Tre ngày càng gần gủi và thuận lợi trên con đường phát triển.

2. Nhà Thờ La Mă

Nhà thờ La Mă nằm trên địa bàn ấp Bàu Dơi, xă Hưng Nhượng, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Nhà thờ La Mă cách thành phố Bến Tre khoảng 26 km về phía hạ nguồn sông Hàm Luông. Nhà thờ La Mă hiện nay là một họ đạo nhỏ, có khoảng 350 giáo dân, chưa có nhà xứ.

Nhà thờ La Mă trực thuộc giáo hạt Bến Tre, giáo phận Vĩnh Long.

Giáo phận Vĩnh Long được thành lập vào năm 1938, sau khi được tách ra từ Tổng Giáo phận Sài G̣n. Giáo phận Vĩnh Long đă trải qua các vị Giám mục cai quản như sau: Giám mục tiên khởi là Đức cha Phêrô Mactinô Ngô Đ́nh Thục, sinh năm 1897, thụ phong linh mục năm 1925 tại Rôma, qua đời năm 1984. Ngài làm Giám mục Giáo phận Vĩnh Long trong 22 năm, từ năm 1938 cho đến năm 1960. Sau đó Ngài được chuyển đi làm Tổng Giám Mục Tổng giáo phận Huế.

Vị Giám mục thứ hai là Đức cha Antôn Nguyễn Văn Thiện, sinh năm 1906, Giám mục Vĩnh Long từ năm 1960 đến năm 1968, hiện nay c̣n đang sống ở Pháp. Vào năm 2006, giáo phận đă tổ chức mừng thọ Ngài 100 tuổi.

Vị Giám mục thứ ba là Đức cha Giacôbê Nguyễn Văn Mầu, sinh năm 1914, Ngài làm Giám mục Giáo phận Vĩnh Long trong 33 năm, từ năm 1968 đến năm 2001, Đức cha Giacôbê Nguyễn Văn Mầu hiện đang hưu dưỡng tại Vĩnh Long. Trong giai đoạn nầy, có Đức cha Raphae Nguyễn Văn Diệp, sinh năm 1926 - Ngài làm Giám mục Phó Giáo phận Vĩnh Long từ năm 1975, đến năm 2000, Ngài xin từ nhiệm sau 25 năm phục vụ. Đức cha Raphae Nguyễn Văn Diệp đă qua đời vào năm 2007, thi hài Ngài được đưa về an táng trong khuôn viên nhà thờ Chính ṭa Vĩnh Long.

Cũng vào năm 2000, linh mục Tôma Nguyễn Văn Tân được bổ nhiệm làm Giám mục Phó Giáo phận Vĩnh Long. Năm 2001, Đức cha Giacôbê Nguyễn văn Mầu nghỉ hưu, Đức cha Tôma Nguyễn Văn Tân, với quyền kế vị, làm Giám mục Chính ṭa Giáo phận với khẩu hiệu “ Hành Tŕnh Trong Đức Ái.”

Giáo phận Vĩnh Long hiện nay trải dài trên bốn tỉnh: Vĩnh Long, Trà Vinh, Bến Tre và một phần tỉnh Đồng Tháp. Theo thống kê năm 2008, Giáo phận Vĩnh Long có 195.711 giáo dân, 176 linh mục, 59 đại chủng sinh, 31 tu sĩ nam, 573 nữ tu và 471 giáo lư viên.

3. Đường Đến Nhà Thờ La Mă

Nhà thờ La Mă nằm trên địa bàn huyện Giồng Trôm. Huyện Giồng Trôm nằm ngay giữa cù lao Bảo. Phía Tây giáp thành phố Bến Tre, phía Đông giáp huyện Ba Tri, phía Bắc và phía Nam được bao bọc bởi hai con sông Ba Lai và sông Hàm Luông.

Từ thành phố Bến Tre đi ra hướng Đông theo tỉnh lộ 885, là đường xuống hai huyện Giồng Trôm và huyện Ba Tri.

Từ thị trấn Giồng Trôm, đi thêm 5km nữa là tới một ngă ba có địa danh là Sơn Đốc. Từ ngă ba Sơn Đốc quẹo phải vào tỉnh lộ 887, trước đây c̣n gọi là “lộ số 5”, đi thêm khoảng 300m th́ quẹo trái để vào chợ Sơn Đốc. Từ chợ Sơn Đốc đi thêm 2km nữa th́ đến nhà thờ La Mă. Hiện nay, đoạn đường dài 2km từ chợ Sơn Đốc đến nhà thờ La Mă chỉ sử dụng được để đi bộ hoặc bằng xe 2 hoặc 3 bánh. Ngă ba Sơn Đốc, chợ Sơn Đốc, nhà thờ La Mă đều thuộc xă Hưng Nhượng, huyện Giồng Trôm tỉnh Bến Tre. Xă Hưng Nhượng giáp ranh với huyện Ba Tri, trong lịch sử có thời gian xă nầy thuộc quận Ba Tri.

Có hai phương cách để đi từ chợ Sơn Đốc vào nhà thờ La Mă, đó là đường bộ và đường sông. Đường bộ có chiều dài 2km, đường sông có chiều dài khoảng 5km, tất cả đều khởi hành từ chợ Sơn Đốc.

Ngô Ngọc Thắng sưu tầm và tổng hợp

...........................................

Lịch sử bức ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp La Mă, Bến Tre

Ngày 26. 4. 1866, tại Giáo triều Rôma, Đức Giáo Hoàng Piô IX đă long trọng trao ban bức ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp cho ḍng Chúa Cứu Thế với lời nhắn nhủ:“Hăy làm cho thế giới này yêu mến Đức Mẹ.”Nguyên bản của bức ảnh nầy hiện nay được tôn kính tại Vương cung Thánh đường thánh Anphongsô, bên cạnh trụ sở trung ương ḍng Chúa Cứu Thế ở Rôma.

V́ thế, khi các cha ḍng Chúa Cứu Thế người Canađa đầu tiên sang lập ḍng ở Việt Nam vào năm 1925, th́ nơi đâu có các Ngài, nơi đó có ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp xuất hiện theo bước chân của các vị truyền giáo. Ḷng sùng kính Đức Mẹ dưới tước hiệu Hằng Cứu Giúp, đă lan tràn trên khắp nơi - trong đó có giáo dân họ đạo La Mă - đặt biệt rất yêu mến và tôn sùng Mẹ Maria Hằng Cứu Giúp

Như vậy, kể từ năm 1930, sau khi được nhận ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp từ cha Luca Sách - cha sở họ đạo Cái Bông, Mẹ đă luôn hiện diện, gần gủi và theo chân con cái của Mẹ trong suốt cuộc hành tŕnh lánh nạn đầy gian khổ và thử thách: Từ Sơn Đốc vào Bàu Dơi, từ Bàu Dơi lên Cái Sơn, rồi lại trở lại Bàu Dơi. Giờ đây, Mẹ vẫn đang ôm Chúa Giêsu con Mẹ vào ḷng, tay Mẹ nắm chặt tay con, như luôn sẳn sàng bảo vệ, che chở và giúp đỡ những ai chạy đến Mẹ, đặt trọn niềm tin tưởng và cậy trông nơi Mẹ.

1. Thất Lạc Ảnh Mẹ

Ngày 2. 2. 1950, gần 3 tháng sau khi được đổi tên thành La Mă, xảy ra một cuộc giao tranh lớn trong vùng, giáo dân bỏ chạy tán loạn. Sau trận ruồng bố ác liệt đó, họ trở về trong cảnh nhà tan cửa nát. Ngôi nhà thờ sơ sài nhỏ bé đang trưng bày ảnh Mẹ cũng bị cướp phá tan hoang. Bức ảnh Mẹ Hằng Cứu Giúp lộng trong khung kiếng cũng biến mất. Họ thẩn thờ nh́n nhau trong ánh mắt buồn bă với những khuôn mặt trắng bệt, họ sợ hăi, họ đói khát, họ thiếu thốn. Họ đă mất mát nhiều quá, mất tất cả. Nhưng có lẽ cái mất mát to lớn và quá sức đang xé nát tâm can họ là Mẹ đă rời bỏ họ ra đi mà không một lời từ biệt. Mẹ đi đâu, Mẹ đang ở đâu? Mẹ có biết con cái của Mẹ ngày đêm trông ngóng nài van xin Mẹ thương cứu giúp, an ủi, nâng đỡ, chở che. Mẹ ơi! Xin cứu giúp chúng con mau thoát cảnh lầm than cơ hàn trăm ngàn sầu khổ.

2. T́m Được Ảnh Mẹ

Ba tháng sau, vào ngày 5. 5. 1950, trong khi đi ṃ cua bắt ốc dưới con rạch trong vùng, một phụ nữ theo đạo Cao Đài tên là Vơ Thị Liềng, quen gọi là bà Sáu Liềng, đụng phải một khung ảnh nằm dưới bùn. Khi vớt lên, tuy khung kiếng vẫn c̣n nguyên, nhưng giấy ảnh đă phai hết màu và có nhiều chổ mục rách lấm lem đầy bùn đất. Nghe tiếng tri hô, nhiều người chạy ra xem, trong đó có anh Thành, con trai của ông Biện Hạt, đến xin lại khung ảnh và đem về.

Với ḷng tôn kính, anh Thành đem khung ảnh Mẹ ra chùi rửa rồi phơi nắng với hy vọng có ǵ khá hơn chăng. Tuy nhiên, dù rửa tới rửa lui, phơi đi phơi lại cũng vẫn không thấy ǵ mới, vẫn chỉ là một khung ảnh đen thui, giấy ảnh bị dính chặt vào kiếng v́ ngâm dưới bùn lâu ngày, h́nh ảnh Mẹ bị phai mờ và có nhiều lỗ thủng. Khung ảnh Mẹ được anh Thành nhét vào tấm vách phên trong chiếc cḥi lá của ḿnh. Phải chăng, nơi anh Thành ở chỉ có chổ đó là c̣n cao ráo và tươm tất nhất? Nơi anh ta ở cũng tan nát, mà ảnh Mẹ th́ đen thui thủi, c̣n ǵ nữa đâu mà kính với thờ!

Ấy vậy, trong một lần ghé thăm con trai và giúp anh Thành dọn nhà về quê vợ lánh nạn. Ông Biện Hạt thấy khung ảnh Mẹ nhét trong kẹt vách phên như vậy,ông hoảng hốt và rầy la anh Thành v́ tội bất kính. Sau đó, ông đem bức ảnh Mẹ về nhà, trân trọng đặt trên tủ thờ trước tấm vách lá ở giữa nhà.

Cuộc sống thời loạn lạc vô cùng khó khăn và thiếu thốn, ai nấy đều cặm cụi tảo tần đi t́m cái ăn để sống qua ngày. Số giáo dân vốn đă ít ỏi, nay lại tản lạc khắp nơi, không ai nghĩ đến việc sẽ có một nơi xứng đáng hơn để tôn kính ảnh Mẹ. Hay chăng ảnh Mẹ bây giờ không c̣n đẹp như xưa, lại bị mất hết h́nh hài, ai nấy nh́n vào chỉ biết ngậm ngùi chua xót.

3. Ảnh Mẹ Lộ H́nh

Năm tháng sau, vào ngày 7. 10. 1950, lại một cuộc giao tranh xảy đến bất ngờ. Dọc theo con rạch trước nhà ông Biện Hạt, một chiếc tàu của Pháp chạy tới lui bắn phá lung tung. Ông Hạt và người con trai út tên Trọng không kịp nhảy xuống cái ao sau nhà d́m ḿnh trong nước, để tránh những làn đạn bắn phá tứ tung của tàu chiến hay máy bay quân đội Pháp như những lần trước đây, mà chỉ kịp ẩn núp dưới tấm vách lá sau bàn thờ. Tiếng súng vừa im, tiếng máy tàu xa dần. Thoát nạn, ông chạy ra trước tủ thờ, làm dấu thánh giá để cám ơn Chúa và Đức Mẹ đă cho cha con ông được tai qua nạn khỏi. Ông vô cùng kinh ngạc khi thấy căn nhà của ông và những nhà chung quanh đă bị đạn bắn phá tan tành, duy chỉ c̣n tủ thờ và tấm vách lá phía sau là c̣n nguyên vẹn.

Nh́n kỹ lên cái tủ làm bàn thờ, ông Hạt vô cùng sững sốt: Bức ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp nằm dưới đáy bùn hơn ba tháng, phai nhạt hết h́nh, nay bổng dưng h́nh Mẹ nổi lên rơ ràng xinh đẹp lạ thường. Hai cha con vừa chứng kiến một sự việc lạ lùng, không cầm ḷng được ông hô hoán lên: Đức Mẹ làm phép lạ! Đức Mẹ làm phép lạ!

Cả xóm cḥi lá vừa ngoi lên bờ, ḿnh mẩy c̣n ướt nhẹp đầy bùn śnh, cũng vội chạy đến nhà ông Hạt, ai nấy đều nh́n thấy như hai cha con ông: Ảnh Mẹ mấy tháng trước đây mất hết h́nh, nay lộ ra rơ ràng, duy chỉ c̣n mũ triều thiên trên đầu Đức Mẹ và Chúa Hài Đồng th́ c̣n lu mờ.

Có hai d́ phước cũng được chứng kiến việc nầy và nói với ông Hạt: “Đây thật là một phép lạ, khi được vớt lên, ảnh bị ố vàng và mờ phai, bây giờ h́nh Mẹ nổi lên rơ ràng và tốt đẹp như vậy, Đức Mẹ thương ông nhiều lắm!”

Mọi người đều nhận ra sự thay đổi lạ thường nơi bức ảnh, họ hân hoan vui mừng v́ được chứng kiến sự lạ lùng đang xảy ra trước mắt họ. Đây là lần thứ nhất ảnh Mẹ Lộ h́nh.

4. Ảnh Mẹ Về Nhà Thờ Cái Bông

Sau đó, ông Biện Hạt đưa ảnh Đức Mẹ ra nhà thờ Cái Bông cho cha sở cũ của ḿnh là cha Luca Sách - người trước đây đă tặng bức ảnh nầy cho nhà nguyện Sơn Đốc - và tŕnh bày với Ngài những sự kiện đă xảy ra trong thời gian vừa qua.

Cái Bông là một họ đạo lớn thuộc xă An Phú Trung, huyện Ba Tri. Từ chợ Sơn Đốc đi xuống nhà thờ Cái Bông khoảng 10 km về phía hạ nguồn sông Hàm Luông, nên rất thuận tiện trong việc đi lại bằng đường bộ.

Cái Bông là một họ đạo lớn, có đông giáo dân lại tiện đường giao thông và nhất là trong thời gian nầy, cha sở họ đạo Cái Sơn, kiêm nhiệm họ đạo La Mă là cha Phêrô Dư đang cho sửa chữa, nâng cấp và trang hoàng lại nhà thờ La Mă, nên cha sở Luca Sách xin giữ lại ảnh Mẹ để tôn kính trong nhà thờ Cái Bông.

Sự lạ đồn ra mau chóng, giáo dân khắp nơi trong đó có những người hiếu kỳ và người ngoại đạo cũng t́m đến để đọc kinh cầu nguyện, xin ơn và chiêm ngưỡng Mẹ Lộ H́nh.

5. Kiệu Trọng Thể Rước Ảnh Mẹ Về Nhà Thờ La Mă

Ngày 20. 6. 1951, họ đạo La Mă khánh thành ngôi nhà thờ mới, tuy cũng lợp lá sơ sài, nhưng khang trang và rộng răi hơn trước, để chuẩn bị đón tiếp Đức Mẹ từ nhà thờ Cái Bông trở về nhà thờ La Mă.

Cuộc rước được tổ chức rất trọng thể. Chương tŕnh sẽ bắt đầu vào lúc 3 giờ chiều ngày 20. 6. 1951, nhưng trước đó, mây đen bao phủ cả một vùng, trời đổ mưa nặng hạt, mọi người chỉ biết nh́n nhau và cầu nguyện, đâu đó văng vẵng tiếng kinh Mân côi. Vài bài hát về Đức Mẹ được cất lên vang vọng cả một góc trời. Trời vẫn mưa, cơn mưa dai dẵng như muốn thử thách sự kiên tŕ và ḷng trung kiên của những người con đặt trọn niềm tin và phó thác nơi Mẹ Hằng Cứu Giúp.

Ba giờ chiều, bỗng nhiên trời quang mây tạnh. Mọi người rất đỗi vui mừng và không ngớt lời ngợi khen cảm tạ: “ Thánh Maria Đức Mẹ Chúa Trời”. Ảnh Mẹ được đặt lên một chiếc kiệu hoa rực rỡ. Tháp tùng theo đoàn kiệu, có hàng trăm chiếc xe đạp, xe lôi thùng và những phương tiện khác, một rừng cờ Đức Mẹ màu xanh trắng cùng băng rôn của các đoàn rước.

Đoàn xe rước ảnh Mẹ từ Cái Bông thuộc huyện Ba Tri, theo tỉnh lộ 885, chạy lên hướng Giồng Trôm, tới ngă ba Sơn Đốc rẽ trái, chạy thêm non 2 km nữa th́ tới chợ Sơn Đốc. Từ nhà thờ Cái Bông lên chợ Sơn Đốc dài khoảng 10 km. Phía sau chợ là bến đ̣ Sơn Đốc, tại đây bàn kiệu Đức Mẹ được đặt trên một chiếc ghe máy, theo sau là một đoàn ghe xuồng chở khách hành hương từ từ xuôi theo con sông nhỏ hướng về nhà thờ La Mă. Theo đường sông, từ bến đ̣ đến nhà thờ La Mă dài khoảng 5 km. Số giáo dân c̣n lại có thể đi bộ theo bờ ruộng để đến nhà thờ. Mọi người nức nở vui mừng chờ đón ảnh Mẹ được rước trọng thể về lại quê nhà.

Cuộc rước ảnh Đức Mẹ có sự tham dự của các tôn giáo bạn và đông đảo giáo dân trong vùng như Ba Tri, Cái Bông, Cái Sơn và các vùng lân cận. Trước đó có cha F.X. Trần Tử Nhăn, ḍng Chúa Cứu Thế từ Sài G̣n được mời về giảng tuần Tam nhật tại La Mă, để dọn ḷng cho giáo dân chuẩn bị nghinh đón Đức Mẹ.

6. Ảnh Mẹ Thánh Du Họ Đạo Cái Sơn - Ảnh Mẹ Lộ H́nh Lần Hai

Vào ngày 15. 8. 1951, nhân dịp lễ Đức Mẹ Mông Triệu, được trọng kính lần đầu tiên kể từ khi Đức Giáo Hoàng Piô XII công bố tín điều Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời, với sự chuẩn y của ĐGM Giáo phận Vĩnh Long là Đức cha Phêrô Mactino Ngô Đ́nh Thục, cha sở họ đạo Cái Sơn - kiêm họ đạo La Mă - là cha Phêrô Dư, đă tổ chức cung nghinh ảnh Mẹ từ La Mă đến họ đạo Cái Sơn.

Đông đảo giáo dân gần xa quy tụ về. Tuần cửu nhật được tổ chức sốt sắng để dọn tâm hồn. Trong những ngày tĩnh tâm đó, các tín hữu được nghe giảng huấn, xét ḿnh và xưng tội. Bế mạc tuần chín ngày là một cuộc rước kiệu Đức Mẹ trọng thể chung quanh nhà thờ, sau đó là thánh lễ đồng tế trọng kính Mẹ Maria Hồn Xác Lên Trời.

Trong dịp nầy hàng ngàn người có mặt đă chứng kiến một sự kiện lạ lùng: Mũ Triều thiên trên đầu Đức Mẹ và Chúa Hài Đồng hiện ra thật rơ ràng. Thêm điều lạ nữa là trước đó, khi bức ảnh được vớt lên, giấy ảnh gắn chặt vào kiếng, nhăn nhúm ố vàng và có nhiều lỗ thủng, bây giờ th́ chân dung Mẹ hiện ra rất xinh đẹp, c̣n các lỗ thủng đă biến mất.

TRUNG TÂM HÀNH HƯƠNG ĐỨC MẸ LA MĂ BẾN TRE

Sau tuần Cửu nhật kính Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp tại họ đạo Cái Sơn, ảnh Mẹ được đưa về lại nhà thờ La Mă - vẫn là ngôi nhà mái lá vách phên. Lúc nầy ảnh Mẹ ngày càng rơ nét và sắc sảo hơn, khuôn mặt của hai thiên thần và nếp áo buông rũ của Mẹ hiện ra rơ rệt và màu sắc sống động.

Tin về Đức Mẹ với những dấu lạ đồn ra khắp nơi, nên người ta tuôn đến La Mă xin ơn Đức Mẹ đông đảo vô cùng. Nhiều người đă tuyên bố ḿnh đă nhận được phép lạ tỏ tường, trong số họ có nhiều người chưa theo đạo Chúa. Họ La Mă trước đây có khoảng 50 giáo dân, nay đă vượt quá 500 người, trong số đó có ông Khá, một người lái đ̣ bị hư mắt, xin ơn Đức Mẹ và được chữa lành. Ông trở lại đạo và tiếp tục là người lái đ̣ của Đức Mẹ để đưa khách hành hương qua sông.

Ngày 12.1.1952, Đức cha Phêrô Mactino Ngô Đ́nh Thục đă âm thầm đến nhà thờ La Mă. Sau khi được cha Phêrô Dư thuật lại sự việc xảy ra vào ngày 15. 8.1951 tại Cái Sơn về sự việc ảnh Mẹ ngày càng lộ h́nh, cũng như biết bao ơn lành hồn xác mà Mẹ đă ban cho những ai đến cầu xin cùng Mẹ.

Sau đó, Đức cha đă quyết định lập một ủy ban gồm có các linh mục triều và ḍng, để cứu xét về “Sự lạ La Mă”.

Một tháng sau, vào ngày 11. 2. 1952, Đức cha Phêrô Mactino đă ban một Huấn lệnh với nội dung như sau:

“Dù bề trên chưa đoán định hư thật thế nào, Toà Ta không cấm bổn đạo đến viếng nhà thờ ấy, miễn là vâng phục lư đoán Hội thánh sẽ ra, sau khi đă truy cứu rơ ràng cẩn thận và miễn là hằng nhớ ḿnh đến viếng nơi thánh ấy cho được cầu nguyện và hăm ḿnh, không phải đi du lịch ăn chơi sung sướng.

Cho nên Ta khuyên lơn ai đi đến nơi ấy - từ hàng giáo sĩ cho đến bổn đạo thường - tuy không ăn chay được th́ ít ra kiêng thịt và không dùng các thứ rượu.

Nếu không thức được trót đêm cầu nguyện, th́ ít là thức một giờ làm giờ Thánh, hay là lần hạt Mân côi. Nếu không thinh lặng được th́ nói nhỏ tiếng, không nên ồ ạt, cợt giỡn v́ là nơi Thánh.

Nam nữ không nên trà trộn, nhất là nhựt một chiều rồi. Người nữ phải ăn mặc nết na kín đáo, không nên ḷe loẹt son phấn.

Ta khuyên ai nấy đừng lợi dụng chốn Thánh mà buôn bán kiếm lời hoặc phổ khuyến xin khất ǵ.

Muốn cho ai nấy dễ bề chịu các phép Bí tích th́ Ta ban cho các cha đă có quyền giải tội trong địa phận ḿnh cũng được giải tội ở La Mă

Sau hết Ta ước ao cho những kẻ tưởng ḿnh đă được ơn riêng Đức Mẹ ban ở La Mă, th́ tŕnh bày việc ấy cho cha bổn sở, tốt hơn là xin giấy chứng minh lương y trước khi đi La Mă và sau khi nghĩ ḿnh được ơn riêng Đức Mẹ ban cho thuyên giảm bệnh tật rồi, gửi giấy má ấy đến tay cha sở La Mă.

Làm huấn lệnh nầy tại Vĩnh Long ngày 11. 2. 1952, cũng là ngày Đức Mẹ hiện ra tại Lộ Đức.

Kư tên

Phêrô Mactino Ngô Đ́nh Thục
Giám mục Vĩnh Long.

Sau khi huấn lệnh của ĐGM Vĩnh Long cho phép kính viếng ảnh Mẹ. Trong đó ngài khuyên nhủ khi đi hành hương nên ăn chay, hăm ḿnh, lần hột, chịu các phép bí tích và sẵn sàng làm chứng về những ơn lành của Mẹ ban cho, th́ làn sóng hành hương bắt đầu tuôn đổ về La Mă. Giáo dân từ nhiều nơi, nhất là Sài G̣n lặn lội t́m về chiêm ngưỡng và cầu xin ơn Mẹ.

Ngày 20.10.1952, theo quyết định của uỷ ban cứu xét về “Sự lạ La Mă”, linh ảnh Mẹ được đưa về nhà thờ Cái Bông để bắt đầu mở cuộc điều tra. Những người có liên hệ được mời đến làm chứng, những ai nhận được ơn Đức Mẹ cũng được mời để tường thuật lại. Hồ sơ điều tra được phúc tŕnh về Ṭa thánh.

Trong dịp này, Đức cha Phêrô Mactino Ngô Đ́nh Thục, Giám Mục Giáo phận Vĩnh Long đă chọn La Mă là trung tâm hành hương “ Kính Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp.” Đức cha cũng bổ nhiệm linh mục Phêrô Trần Hữu Dư - nguyên cha sở họ Cái Sơn - chính thức nhận nhiệm sở họ La Mă.

Sau nhiều năm tháng dày công chuẩn bị và xây dựng, ngôi nhà thờ mới La Mă đă hoàn thành có chiều dài 35m, chiều ngang 16m và tháp chuông cao 19m. Trong ba ngày 12, 13, 14 tháng Giêng, năm 1957, lễ khánh thành thánh đường La Mă được cử hành trọng thể với sự tham dự của năm vị Giám mục và hàng trăm Linh mục, tu sĩ nam nữ và hàng vạn bà con lương giáo từ khắp nơi đổ về. Đức Mẹ La Mă Bến Tre trở thành trung tâm hành hương thứ ba của Giáo hội Việt Nam, sau Đức Mẹ La Vang và Đức Mẹ Trà Kiệu.

Tại đoạn sông nơi bà Sáu Liền vớt được ảnh Mẹ, vị trí nầy nằm về hướng trước mặt nhà thờ La Mă. Tại đây một đài kỷ niệm được xây lên trên ḍng sông có ghi hàng chữ “Nơi gặp ảnh Mẹ”. Đài nầy hiện nay theo thời gian đă bị vùi lấp dưới ḍng sông và không c̣n dấu tích.

Tại khu đất sát bờ sông La Mă, nằm về hướng phía sau nhà thờ La Mă, nơi căn nhà xưa kia ông Câu Hạt và người con trai út tên Trọng đă chứng kiến phép lạ ảnh Mẹ Lộ H́nh vào ngày 5. 5. 1950, có một đài kỷ niệm Đức Mẹ Lộ H́nh. Hiện nay thỉnh thoảng vẫn có khách hành hương đến tham quan và kính viếng.

Trung tâm hành hương Đức Mẹ HCG La Mă Bến Tre thường xuyên đón tiếp khách hành hương từ khắp nơi tuôn đổ về để kính viếng và xin ơn Đức Mẹ.

Hằng năm, giáo phận Vĩnh Long và họ đạo La Mă có tổ chức 2 ngày đại lễ như sau: Ngày 5. 5. là ngày kỷ niệm t́m đươc ảnh Mẹ và ngày 7. 10. là ngày kỷ niệm Linh Ảnh Mẹ Lộ H́nh.

(T́m hiểu và tổng hợp)

Nguồn : VietCatholic


H́nh ảnh nhà thờ họ đạo La Mă

 

 

H́nh ảnh bổ sung xin gởi về
giaoxugiaohovietnam@Yahoo.com