Giáo Phận Đà Lạt

 
 

 

 LỊCH SỬ

GIÁO XỨ TÂN BÙI

Nguồn : http://giaoxutanbui.net

1. Vài nét về môi trường

2. Theo ḍng thời gian

3. Lịch sử h́nh thành và phát triển

4. Khi Giáo xứ được thiết lập

5. Giáo xứ qua các đời Cha Quản xứ

6. Những nhân vật quan trọng

7. Các đoàn thể

8. Các Tu Sỹ

9. Sức sống của Giáo xứ

1. Vài Nét Về Môi Trường

Định vị giáo xứ trên bản đồ Giáo phận Có dịp đi theo đường bộ Tp.Hồ Chi Minh lên thành phố Đà Lạt tỉnh Lâm Đồng, vừa tới chân đèo Bảo Lộc, cùng với khung cảnh kỳ vĩ của núi rừng thiên nhiên , du khách bỗng cảm thấy vô cùng dễ chịu bởi khí hậu mát mẻ vùng Tây Nguyên, khác hẳn với cái nóng oi bức của miền Đông Nam Bộ. Qua hết đèo, hai bên đường là những đồi trà, cà phê chập chùng, xanh tốt bạt ngàn với nhiều độ cao và h́nh dáng khác nhau, nối tiếp xen lẫn giữ một vùng dân cư với kiến trúc nửa đô thị nửa nông thôn. Đó là lúc, ta bắt đầu đi vào địa phận của Giáo Xứ Tân Bùi, thuộc giáo hạt Bảo Lộc, nằm tại phía nam của bản đồ Giáo phận Đà Lạt, cách Ṭa Giáo Muc Đà Lạt khoảng 115km.

Gần đây, sau khi được Đức Cha Giáo Phận chia tách, thành lập thêm hai giáo xứ mới là Giáo xứ Suối Mơ(ngày 25-12-2005) và Giáo xứ Lê Bảo Tịnh(ngày 10-04-2008). Hiện nay, Giáo xứ Tân Bùi có chiều dài gần 3km, thuộc xă Lộc Châu - Tp.Bảo Lộc - Tỉnh Lâm Đồng nằm tại vị trí km114 đến km117 Quốc Lộ 20, kể từ Ngă ba Cầu Giây thuộc tỉnh Đồng Nai. Phía Đông giáp Giáo xứ Tân Hà. Phía Tây giáo với Giáo xư Lê Bảo Tịnh. Phía Nam giáp xă Lộc Thành - Huyện Bảo Lâm - Tỉnh Lâm Đồng. Phía Bắc giáp Giáo Xứ Tân Hà. Diện tích tự nhiên là 3,619ha, trong đó đất thổ cư chiếm 123ha.

Vài nét kinh tế đặc trưng của địa phương

Là vùng địa bàn thuộc vùng nam Tây Nguyên, do đặc điểm về khí hậu và thổ nhưỡng, giáo dân trong Giáo xứ sống chủ yếu bằng nông nghiệp: trồng trà, cà phê. Ngoài ra c̣n một số làm nghề tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ và buôn bán. Trong t́nh h́nh công nghiệp hóa như hiện nay, một số con em hiện là công nhân làm việc cho các doanh nghiệp tại địa phương cũng như tại một số nới khác nữa.

Vài nét văn hóa đặc trưng của địa phương

Phần lớn giáo dân của Giáo xứ từ Giáo phận Bùi Chu đến đây lập nghiệp sau ngày kư hiệp định Genève năm 1954 nên sinh hoạt tôn giáo ở đây mang nét văn hóa đặc trưng của giáo phận gốc là Giáo phận Bùi Chu.

2. Theo ḍng thời gian

Giáo xứ Tân Bùi ở vào cây số 170-184 thuộc quốc lộ 20. V́ là một xứ đạo có diện tích đất đai đă và c̣n đón nhận thêm dân cư, nên số giáo dân tăng dần với thời gian, và ngôi nhà thờ của xứ đă tu bổ hoặc xây mới nhiều đợt.

Năm 1954, cha Phaolô Vơ Quốc Ngữ dẫn đầu một nhóm giáo dân từ Sàig̣n lên miền Bảo Lộc t́m nơi sinh sống. Cha đă đến gặp cha Phaolô Nguyễn Văn Đậu để t́m hiểu về phong thổ và phương cách làm ăn của miền Bảo Lộc, đồng thời dẫn một số giáo dân đi quan sát cụ thể một số trại tạm cư vừa h́nh thành (như Tân Hà, Tân Thanh, Tân Phát.). Trước triển vọng tốt đẹp của những trại vừa nói, cha và những người cùng đi đều nhất trí chọn miền đất Bảo Lộc. Vấn đề là đặt chân tại đâu. Nhờ sự giao tế khéo léo, cha đă được bà Nguyễn Hữu Hào bằng ḷng nhượng lại vô điều kiện một khu đất tư của bà, rộng 300 mẫu, từ ven quốc lộ tới sông Đại B́nh.

Khoảng trung tuần tháng 11-1954, cha về Sài G̣n, Tân Mai Hố Nai đón nhóm người đầu tiên khoảng 400 người bằng một đoàn xe ca và vận tải trên 10 chiếc. Thời gian sau đó, số người đến càng ngày càng đông; đến cuối năm 1961, con số đă lên đến 2446. Đa số là giáo dân gốc địa phận Bùi Chu, số c̣n lại thuộc Thanh Hóa, Phát Diệm, Hà Nội, Bắc Ninh.

Để ổn định dần dần đời sống cho giáo dân, cha thuê xe ủi những khu đất dốc dác rậm rạp và chia lô cho các gia đ́nh. Mọi người tá túc trong những chiếc lều vải và dùng đồ hộp, đồ khô được tiếp tế đều đặn.

Ngày đáng ghi nhớ nhất của xứ là ngày 19-5-1955: Trong mấy căn lều vải được dựng lên từ đầu làm nơi tạm trú và trụ sở cho cha xứ, một thánh lễ trang nghiêm đă được cử hành với sự tham dự của mọi người, đánh dấu ngày xứ đạo chính thức được thành lập, và chính thức chọn Thánh Giuse làm Bổn Mạng.

Từ đó, song song với công cuộc khai phá để ổn định đời sống, cha xứ và giáo dân từng bước kiến thiết nguyện đường của xứ.

Ngôi nhà thờ thứ nhất là một căn nhà mái tôn vách ván, dài 22m, rộng 8m sau này sẽ được dùng làm trường học và hội quán. Vừa làm xong, cha Ngữ đă được điều động đi Buôn Mê Thuột lập đồ án cho các trại định cư. Cha rời xứ ngày 17-10-1955. Cùng ngày đó, cha Phêrô Nguyễn Xuân Tín về thay thế.

1. Ngôi nhà thờ thứ hai được xây cất dưới thời cha Tín. Cha hô hào giáo dân vào rừng xẻ gỗ, đồng thời thuê máy về đúc gạch xi măng, để dựng nên ngôi nhà bằng cây vuông, mái tôn vách ván, nền và hè tráng xi măng. Ngôi nhà ấy nay là trường phổ thông cấp I và II xă Lộc Châu.

2. Chẳng bao lâu sau, cha lại phải xúc tiến xây cất ngôi nhà thờ thứ ba (dài 30m, rộng 12m, gồm 7 gian, mái tôn tường gạch nền xi măng). Sau gần 1 năm thi công, nhà thờ này đă được Đức Cha Phạm Ngọc Chi về khánh thành và làm phép trọng thể vào tháng 9-1957.

Cũng thời gian này, cha mua được bộ chuông ba quả từ bên Pháp. Xứ đă đốn cây về làm gác chuông tạm, và 4 năm sau (1961) đă xây tháp bằng sắt hiện c̣n tới nay.

3. Năm 1961, cùng lúc với việc tu bổ tháp chuông, nhà thờ được nới rộng ra thêm một gian đầu, dài 5m theo kiểu 6 mái. Trước đà gia tăng mau lẹ về con số giáo dân, cha đă nghĩ đến một thánh đường khang trang hơn, và đă để ư mua sắm dần các vật liệu cần thiết (sắt, đá, sườn nhà phế thải). Nhưng năm 1975, v́ lư do sức khỏe cha đệ đơn xin đi hưu dưỡng và ngày 4-8 cha đă bàn giao giáo xứ cho cha Dương Ngọc Châu.

4. Đây là lúc ngôi nhà gỗ gần 20 tuổi đời ở vào t́nh trạng nguy kịch. Sau nhiều lần bàn thảo tính toán kỹ càng, cha xứ mới và ban điều hành giáo xứ đều đồng ư tu sửa gấp rút.

5. Đầu năm 1976, được TGM khích lệ, chính quyền chấp thuận và giáo dân đóng góp tích cực nhân lực, tài lực khởi sự công việc. Đến lễ Giáng Sinh, giáo xứ đă có ngôi Thánh đường cột sắt, cửa sắt, rộng răi khang trang, được nới rộng thành 48X 17m trên nền cũ. Tuy vậy c̣n nhiều nhiều công việc phải được thực hiện từng đợt và suốt nhiều năm, để cuối cùng ngôi thánh đường mới tạm hoàn chỉnh:

a. Tân tạo và trang bị gian cung thánh, xây bệ và đóng bàn thờ mới, thiết kế bối cảnh sau nhà thờ, đóng thêm 100 hàng ghế, đặt và làm phép 14 chặng đàng Thánh Giá (do cha quản hạt Trần Thái Huân), lát gạch bông gian cung thánh (1977).

b. Xây bao lơn chung quanh nhà thờ (1978)

c. Làm đá rửa chân tường chung quanh, tân trang hai bàn thờ cạnh (1980)

d. Tu bổ gian cung thánh, thiết kế hệ thống âm thanh, thay Đàng Thánh Giá do TGM cho (1984)

e. Tu bổ và lên lầu gian pḥng áo (11-1990)

f. Ngoài ngôi thánh đường chính, giáo xứ c̣n ba nhà nguyện tại các họ lẻ: Nhà nguyện kính Thánh Phaolô Lê Bảo Tịnh (Đại Lào), Đền Thánh Vinh Sơn (họ Tân Vượng), Nhà nguyện kính Đức Mẹ Lên Trời (họ Tân Ninh), nhà họp cho Hội Đạo Binh Đức Mẹ (1969), một nhà dài 4 gian, mái tôn tường xây, thuộc hội ḍng Đaminh (1970)

g. Ngôi nhà xứ khang trang (1971) thay thế cho căn nhà gỗ "cao cẳng" cột gỗ mái tôn vách ván đă mục nát v́ mối mọt.

Song song với việc kiến thiết cơ sở vật chất, giáo xứ cũng đều đặn xây dựng và ổn định đời sống tôn giáo. Các cha chuyên chăm giảng dạy Lời Chúa, tái lập các hội đoàn, duy tŕ những việc đạo đức đă ăn sâu vào truyền thống các xứ Ḍng ngoài Bắc (nhất là trong dịp Mùa Chay, Ngắm đứng, rửa chân, đóng đinh Chúa, an táng, tháo xác, hôn chân, để tang Chúa. hoặc rước kiệu, dâng hoa trong một số dịp đại lễ).

Nhờ sự d́u dắt của các cha xứ, nhiều cha phụ tá (vài năm đổi một lần) và sự cộng tác đắc lực của các thầy giảng Bùi Chu, các thầy Đắc Lộ, các nữ tu Mân Côi, giáo xứ luôn sốt sắng sống đạo, cố gắng nên thánh giữa đời. Từ khi thành lập, giáo xứ đă cống hiến cho Hội Thánh một số linh mục, tu sĩ và hiện nay đang là giáo xứ đông nhất giáo phận với nhiều sức sống và triển vọng tốt đẹp.

Giáo xứ hiện nay dưới sự coi sóc của cha Giuse Nguyễn Đức Cường.

3. Lịch Sử H́nh Thành Và Phát Triển

Những bước phôi thai

Khoảng trung tuần tháng 11-1954, sau khi lên Bảo Lộc để t́m hiểu về phong thổ, công ăn việc làm, Cha Phaolô Vơ Quốc Ngữ, lúc bấy giờ là linh mục có trách nhiêm cai quản số giáo dân thuộc các Địa phận Bùi Chu, Phát Diệm, Thanh Hóa... đă vào niềm nam để mưu t́m một cuộc sống mới sau hiệp định Genève năm 1954 đang tạm cư tại vùng Sài G̣n, Hố Nai, Tân Mai... Ngài đă quyết định chọn vùng Bảo Lộc làm địa điểm định cư cho giáo dân của Ngài.

Được sự giup đỡ tận t́nh của Cha Phao Lô Nguyễn Văn Đậu, lúc đó là Cha sở Bảo Lộc, cùng với kỹ năng giao tế, Cha Phao Lô Vơ Quốc Ngữ đă được một điền chủ là gia đ́nh ông bà Nguyễn Hữu Hào, song thân của Nam Phương Hoàng Hậu, nhựng lại cho Cha một vùng đất của ông bà để Cha lập Giáo xư mới, rông chừng 300ha, từ ven Quốc Lộ 20 đi vào giáp sông Đại B́nh.

Sau khi đă cho san ủi, phân lô đất thổ cư cho đồng bào và phân định vùng đất canh tác để giao dân khai hoang, xây dựng các cơ sở hạ tầng cho Giáo xứ như Nhà Thờ tạm, trường học, trạm y tế và tổ chức thành các Khu mà sau này là các Giáo Họ, thành lập Ban Hàng Xứ, các Ban Khu để điều hành công việc chung, đặt nền móng căn bản cho Giáo xư về mặt đạo cũng như đời, ngày 19-03-1955, thời Đức cha Simon Ḥa Nguyễn Văn Hiền, trong Thánh Lễ Kính Thánh Cả Giuse, Cha Phao Lô Vơ Quốc Ngữ đă tuyên bố thành lập Giáo Xư Tân Bùi và nhận Thánh Cả Giuse làm Quan Thầy Giáo xứ.

Khi Giáo Xứ Được Thiết Lập Số giáo dân khoảng 400 người và gồm có 4 giáo họ:Giáo họ Tân An, Giáo họ Tân Ninh, Giáo họ Tân Thịnh và Giáo họ Tân Vượng.

1. Giáo họ Tân An : c̣n gọi là Giáo họ Giuse được thành lập ngày 19-03-1955. Năm 1968, sau khi xây dựng nhà nguyện, Giáo họ Tân An nhận thánh Giuse là Quan Thầy, được mừng kính vào ngày 19-03 hàng năm.

2. Giáo ho Tân Ninh : c̣n gọi là Giáo họ Mẹ Lên Trời, được thành lập ngày 19-03-1955. Năm 1968, Giáo họ chính thức nhận Đức Mẹ Lên Trời là Quan Thầy, được mừng khính vào ngày 15-08 hàng năm.

3. Giáo họ Tân Thịnh : c̣n gọi là Giáo họ Phêrô, được thành lập vào ngày 25-03-1955. Giáo họ chọn Quan Thầy là Thánh Phêrô, được mừng kính vào ngày 29-06 hàng năm.

4. Giáo họ Tân Vượng : c̣n gọi là Giáo họ Vinh Sơn, được thành lập từ khi mới thành h́nh Giáo xứ Tân Bùi. Khi đó được gọi là Giáo khu Tân Vượng. Đầu năm 1960, Giáo họ nhận thánh Vinh Sơn làm Quan Thầy, lễ kính vào ngày 05-04 hàng năm.

5. Giáo họ Lê Bảo Tịnh : c̣n gọi là Giáo họ Đại Lào, được sáp nhập vào Giáo xứ Tân Bùi vào ngày 24-06-1961. Trước đó, giáo họ này trực thuộc Giáo xứ Bảo Lộc. Đến ngày 06-04-2008, được nâng lên thành Giáo Xứ Lê Bảo Tịnh. Cha Anrê Trần Văn Khiêm, nguyên Phó xứ Tân Bùi làm Cha Quản xứ tiên khởi.

6. Giáo họ Mẹ Thiên Chúa : được thành lập vào tháng 09-1987. Quan Thầy của giáo họ là Đức Maria Mẹ Thiên Chúa, được mừng kính vào ngày 01-01 hàng năm.

7. Giáo họ Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp : được thành lập tháng 06-1993. Ngày 22-06-2006, Đức Cha Giáo phận Phêrô Nguyễn Văn Nhơn đă về chủ sự Thánh Lễ đặt viên đá đầu tiên khởi công xây dựng nhà thờ mới. Sau hơn 2 năm xây dựng, ngày 11-12-2008, lễ khánh thành và cung hiến được Đức cha giáo phận cửa hành. Từ nay, sẽ được gọi là Nhà thờ Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp, cũng là Quan Thầy của Giáo họ, lễ kính vào ngày 10-10 hàng năm. Ngày 05-07-2009, lần đầu tiên tại Nhà thờ được phép tổ chức Chầu Thánh Thể thay cho Giáo Phận theo lịch Chầu thường niên.

8. Giáo họ Martino : được thành lập năm 1993, Quan Thầy của giáo họ là Thánh Martino(Martin de Porres) được mừng kính vào ngày 03-11 hàng năm.

9. Giáo họ Suối Mơ : được thành lập vào ngày 20-09-1993, gồm khu vực đầu đèo Bảo Lộc và được tách ra từ Giáo họ Lê Bảo Tịnh. Đầu năm 2002, được gọi là Giáo sở. Ngày 25-12-2005, được nâng lên thành Giáo xứ. Đức Cha Giáo Phận Phêrô Nguyễn Văn Nhơn đă kư nghị định thành lập Giáo xứ Suối Mơ với tước hiệu Mẫu Tâm và bổ nhiêm cha Giuse Trần Đức Liêm, nguyên Phó xứ Tân Bùi làm Cha quản xứ tiên khởi.

10. Giáo họ Đạ Nghịch : được thành lập ngày 25-01-1994. Quan Thầy là Thánh Phaolô trở lại được mừng kính trọng thể vào ngày 25-01 hàng năm. Đây là Giáo họ gồm toàn đồng bào dân tộc K'hor, luôn luôn nhận được sự quan tâm và chăm sóc đặc biệt của Đức Cha Giáo Phận, quư cha cũng như của toàn Giáo xư.

11. Giáo họ Đaminh : được thành lập ngày 01-10-1997, nguyên là một Giáo khu trực thuộc Giáo họ Tân Ninh. Quan Thầy của Giáo họ là Thánh cả Đaminh được mừng kính vào ngày 08-08 hàng năm.

Như vầy đến nay, Giáo xứ Tân Bùi c̣n lại 9 Giáo họ và tính đến ngày 31-07-2009 Giáo xứ có 2.400 hộ với 11.400 Giáo dân.

Giáo Xứ Qua Các Đời Cha Quản Xứ

Đến nay Giáo xứ Tân Bùi có 5 đời Cha Quản xứ.

Các Ngài là những chủ chăn giàu ḷng nhân ái. Xây dựng Giáo xứ Tân Bùi vững mạnh, năng động như ngày nay.

Cha Phaolô Vơ Quốc Ngữ

"...Cuộc sống buôn ba v́ Nước Trời được điểm tô muôn ngàn vạn nét đẹp của Phaolô măi măi được hát lên như một bài ca khải hoàn “Ai có thể tách chúng ta ra khỏi t́nh yêu của Đức Kitô ? Phải chăng là gian truân,bắt bớ, đói khát,trần truồng, nguy hiểm,gươm giáo? … V́ tôi thâm tín rằng sự chết hay sự sống,dù thiên thần hay thiên phủ,dù hiện tại hay tươnglai,hay bất cứ sức mạnh nào,trời cao hay vực thẳm hay bất cứ tạo vật nào khác, không có ǵ có thể tách chúng ta ra khỏi t́nh yêu Thiên Chúa thể hiện cho chúng ta trong Đức Giêsu Kitô,Chúa chúng ta “ (Rm 8,35-39)."

Sinh năm 1923, tại làng Hiếu Nghĩa - Kim Sơn - Ninh B́nh.Thụ phong Linh Muc tháng 05-1952 do Đức Cha Phêrô Maria Phạm Ngọc Chi. Quản xứ Tân Bùi từ năm 1954-1955. An nghỉ trong Chúa ngày 16-08-2007.

Cha Phêrô Maria Nguyễn Xuân Tín : sinh năm 1916 tại làng Lă Điền - Mỹ Lộc- Nam Định. Thụ phong Linh Muc năm 1945 tại Bùi Chu. Quản xứ Tân Bùi từ 17-10-1955 đến năm 1975. An Nghỉ trong chúa ngày 09-09-2000.

Cha Giuse Dương Ngọc Châu : sinh năm 1942 tại Giáo xứ Kim Bảng thuộc huyện Kim Bảng - Nam Định. Thụ phong Linh Mục ngày 28-11-1970 tại Manila(Phi Luật Tân) do Đức Giáo Hoàng PhaoLô VI. Quản xứ Tân Bùi từ 04-08-1975 đến 18-09-1993. An nghỉ trong chúa ngày 30-03-2009.

Cha Phêrô Hoàng Ngọc Dao : sinh ngày 29-09-1945 tại Giáo xứ Dục Đức, huyện Kim Sơn - Hà Nam Ninh. Thụ Phong Linh Mục ngày 16-12-1973. Quản xứ Tân Bùi ngày 20-09-1993 đến ngày 22-03-2005. An nghỉ trong chúa ngày 22-05-2005.

Cha Giuse Nguyễn Đức Cường: Quản xứ hiện nay: sinh ngày 14-10-1953 tại Phúc Lăng - Thanh Hóa. Thụ phong Linh Mục ngày 27-06-1992 tại Đại chủng viện Thánh Giuse Sài G̣n do Đức Tổng Giáo Mục Phaolô Nguyễn Văn B́nh. Phó xứ Tân Bùi từ ngày 30-04-2001. Quản xứ Tân Bùi từ ngày 27-06-2005 đến nay.

Những Nhân Vật Quan Trọng Các Cha Phó

Trong quá tŕnh h́nh thành và xây dựng Giáo xư nhận được sự giúp đỡ của các Cha Phó Xư.

Cha Đôminicô Đinh Quang Bính : từ 1954 - 1957.

Cha Giuse Vũ Văn Bản : từ 1957 - 1958.

Cha Phêrô Maria Trần Đ́nh Khắc : từ 1960 - 1962.

Cha Giuse Trần Thành Công : từ 08-08-1967 đến 01-07-1971.

Cha GB. Nguyễn Văn Khang : từ 07-07-1971 đến 19-06-1972.

Cha Giuse Nguyễn Văn Bảo : từ 18-06-1972 đến 09-07-1973.

Cha Đaminh Nguyễn Ngọc Đễ : từ 08-08-1973 đến 08-09-1974.

Cha Đaminh Nguyễn Chu Truyền : từ 09-08-1988 đến 30-08-1993

Hiện nay Cha Đaminh là Quản Xứ Giáo Xứ Tân Hóa

http://www.simonhoadalat.com/DIAPHAN/GIAOXU/tanhoa.html

Cha Gioan Bosco Hoàng Văn Chính : từ 08-08-1993 đến 15-12-2000.

Hiện nay Cha Gioan Bosco là Quản Xứ Giáo Xứ Vạn Thành ( Hạt DaLat)

http://www.simonhoadalat.com/DIAPHAN/GIAOXU/vanthanh.html

Cha Giuse Nguyễn Đức Cường : từ 30-04-2011 đến 26-06-2005.

Hiện Cha Giuse là Quản Xứ Giáo Xứ Tân Bùi

Cha Giuse Trần Đức Liêm : từ 03-12-1998 đến 25-12-2005

Hiện nay Cha Giuse là Quản Xứ Giáo Xứ Suối Mơ

http://www.simonhoadalat.com/DIAPHAN/GIAOXU/SuoiMo.htm

Cha Anrê Trần Văn Khiêm : từ 15-05-2004 đến 09-04-2008

Hiện nay Cha Anrê là Quản Xứ Giáo Xứ Lê Bảo Tịnh

Cha Antôn Lê Xuân : từ 29-10-2005 đến 28-03-2012.

Hiện nay Cha Antôn là Quản Xứ Giáo Xứ Mẹ Thiên Chúa

Cha Lôrensô Trần Ngọc Toàn : từ 30 - 10 -2009 đến nay.

Các Đoàn Thể Các đoàn thể hiện đang sinh hoạt trong Giáo Xứ gồm có:

1. Ban Thánh Nhạc: thành lập năm 2001, có nhiện vu:

Nghiên cứu , t́m hiểu về Thánh nhạc để giúp đỡ các Ca đoàn trong Giáo xứ thực hiện theo đúng tinh thần Phụng vụ.

Lập kế hoạch, tổ chức, điều động các Ca đoàn cùng hát chung trong các dịp lễ lớn của Giáo xứ.

*Bổn mạng là Thánh Piô X Giáo Hoàng, lễ kính ngày 21-8 hàng năm.

2. Ca Đoàn: dùng lời ca tiếng hát để tôn vinh Thiên Chúa và phục vụ cộng đoàn. Giáo xứ có tất cả 31 Ca đoàn, gồm có:

* 4 Ca đoàn Giáo xứ: Ca đoàn Don Bosco, Ca đoàn Thiên Thần, Ca đoàn Monica, Ca đoàn Thánh Gia.

* 27 Ca đoàn của 9 Giáo họ: mỗi Giáo họ có 3 Ca đoàn gồm Ca đoàn Giới trẻ. Ca đoàn các Bà mẹ và Ca đoàn Gia trưởng.

3. Thừa Tác Viên Ngoại Lệ: giúp các Cha trong việc trao Ḿnh Thánh Chua trong các Thánh Lễ tại Nhà Thờ Giáo xứ, tại Nhà Nguyện của các Giáo họ và trao Minh Thánh Chúa cho các bệnh nhân trong Giáo xứ.

*Bổn mạng là Lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống.

4. Hội Lễ Sinh: thành lập từ khi Giáo xứ mới h́nh thành năm 1955.

*Bổn mạng là Thánh Đaminh Saviô, lễ kính vào ngày 05-6 hàng năm

5. Giáo Lư Viên: chịu trách nhiệm tổ chức việc dậy Giáo Lư trong Giáo xứ theo chương tŕnh của Giáo Phận. hiện nay tại Giáo xứ có các khối Sơ cấp, Căn bản, Kinh Thánh và Vào đời. Hàng năm c̣n mở thêm các lớp Giáo Lư Hôn Nhân kéo dài 3 tháng. Ban phụ huynh học sinh Giáo lư cũng được thành lập để tiếp tay hỗ trợ cho Ban Giáo Lư và Giáo lư viên có điều kiện chuyên lo việc giảng dậy

* Bổn mạng là Thánh Anrê Phú Yên, mừng kính vào ngày 26-7 hàng năm.

6. Huynh Đoàn Giáo Dân Đaminh: quy tụ giáo dân trong xứ gia nhập Hội Ḍng, để cùng nhau cầu nguyện, tham dự Thánh Lễ và cử hành các giờ kinh nguyện theo đường lối của Cha Thánh Đaminh là đến với Chúa một cách trọn lành hơn và cùng nhau làm công tác được Chúa thánh hóa trọn ngày đêm từng giây phút, thêm ḷng đạo đức của người Kitô hữu.

* Bổn mạng là Thánh Cả ĐaMinh, Lễ kính ngày 08-8 hàng năm

7. Hội Legio Mariae: cầu nguyện, truyền giáo, siêng năng lần hạt Mân Côi và thánh hóa bản thân theo gương Đức Mẹ. Hiện Giáo xứ có 1 Curia.

8. Hội Gia Đ́nh Đức Mẹ Đồng Công Cứu Chuộc: cầu nguyện và truyền giáo

Các tu sỹ

1. Thầy Giuse Trần Khánh Vân từ năm 1956 đến năm 1996.

2.Thầy Giuse Vũ Thế Duyệt từ năm 1956 đến năm 1960.

3.Thầy Gioan Bosco Hoàng văn Chính từ ngày 02-04-1990 đến 08-08-1993.

4.Thầy Giuse Trần Đứ Liêm từ 02-04-1990 đến 03-12-1998.

5. Thầy Phêrô Mai Xuân Tiến

6.Thầy Lâm.

7.Thầy Huy

8.Thầy Đức

Các giáo dân tiêu biểu

Đó là các giáo dân tham gia Hội đồng giáo xư, gồm những giáo dân được đề cử và lựa chọn để giúp đỡ các Cha trong việc điều hành chung của Giáo xư. Có thể coi đây là những giáo dân tiêu biểu trong việc đóng góp xây dựng Giáo Xư, những tấm gương về tinh thần hy sinh, phục vu quên ḿnh mà mọi người đều quư mến và cảm phục.

Từ ngày thành lập Giáo xứ đến nay, Hội đồng giáo xứ có tất cả 12 khóa.

Sau đây là danh sách Hội đồng giáo xứ tư khi thành lập Xứ đến nay.

Khóa 1 từ năm 1955-1960

Giuse Nguyễn Nguyên Đán - Chánh Trương

Giuse Vũ Hữu Huỳnh - phó Trương 1

Giuse Trần Viêt Ruy - phó Trương 2

Giuse Nguyễn Tiến Lăng - Thư Kư

Phêrô Trịnh Văn Lại - Thủ Quỹ

Khóa 2 từ năm 1961 - 1964

Giuse Nguyễn Nguyên Đán - chánh trương

Giuse Vũ Hữu Thường - phó trương 1

Gioan Baotixita Vũ Văn Học - phó trương 2

Gioan Baotixita Phạm Đức Hoạt - thư kư

Vicentê Đào Văn Thị - thủ quỹ

Đaminh Hoàng Văn Minh - tuần kiểm

Giuse Nguyễn Gia Mô - giám tự

Khóa 3 từ năm 1965-1969

Đaminh Nguyễn Văn Nguyên - chánh trương

Đaminh Đinh Văn Đo - phó trương 1

Đaminh Vơ Hữu Hồ - thư kư

Vecentê Đào Văn Thị - thủ quư

Đaminh Hoàng Văn Minh - tuần kiểm

Giuse Hoàng Đ́nh Tư - giám tự

Khóa 4 từ năm 1970 - 1975

Vecentê Đào Văn Thi - chánh trương

Đaminh Đào Ngọc Ruẫn - phó trương 1

Gioan Baotixita Vũ Văn Học - phó trương 2

Giuse Tạ Văn Ngọ - thư kư

Giuse Tống Thân - thủ quỹ

Giuse Nguyễn Tri Phương - uv phục vụ & truyền thông

Đaminh Phạm Đứ Kính - uv phúc âm

Đaminh Đoàn Văn Hướng - uv trật tự & xă hội

Khóa 5 từ năm 1976 - 1989

Đaminh Phạm Văn Cường - chánh trương

Giuse Nguyễn Tri Phương - phó trương

Đaminh Trần Đ́nh Ban - thư kư

Đaminh Phạm Công Trung - thủ quỹ

Anrê Nguyễn Thanh Hương - giám tự

khóa 6 từ năm 1989 - 1992

Giuse Trần Đức Thiệp - trưởng ban

Đaminh Ngô Viết Vụ - phó ban

Gioan Baotixita Trần Như Thường(Cường) - thư kư

Khóa 7 từ năm 1992 - 1995

Giuse Trần Đức Thiệp - trưởng ban

Đaminh Ngô Viết Vụ - phó ban

Giuse Phạm Văn Nam - thư kư

Khóa 8 từ năm 1995 - 1998

Giuse Phạm Văn Nam - trưởng ban

Giuse Vũ Quốc Thị- phó ban

Giuse Maria Nguyễn Văn Thật - phó ban

Giuse Trịnh Đ́nh hất - thư kư

Giuse Vũ Văn Nha - thủ quư

Khóa 9 từ năm 1998 - 2001

Giuse Maria Nguyễn Văn Thật - trưởng ban

Đaminh Vũ Văn Ḥe - phó ban

Gioan Baotixita Trần Như Thường - phó ban

Giuse Nguyễn Văn Sử - thư kư

Giuse Trần Văn Yên - thủ quỹ

Antôn Đặng Văn Diện - phục vụ

Tômasô Nguyễn Văn Biên - giáo tự

Khóa 10 từ năm 2001 - 2004

Giuse Maria Nguyễn Văn Thật - trưởng ban

Gioan Baotixita Trần Như Thường - phó ban

Giuse Nguyễn Văn Sử - phó ban

Antôn Đặng Văn Diêm - thư kư

Vinh Sơn Ngô Văn Tẩu - thủ quỹ

Vinh Sơn Ngô Ngọc Huỳnh - trậ tự

Khóa 11 từ năm 2004 - 2007

Gioan Baotixita Trần Như Thường(Cường) - trưởng ban

Antôn Đặng Văn Diện - phó ban

Đaminh Nguyễn Văn Tân - thư kư

Giuse Nguyễn Ngọc Tạ - thủ quỹ

Khóa 12 từ năm 2007 - 2011

Gioan Baotixita Trần Như Thường(Cường) - trưởng ban

Antôn Nguyễn Văn Diện - phó ban

Gioan Baotixita Nguyễn Văn Thắng - thủ quư

Giuse Nguyễn Ngọc Tạ - thủ quư

Sức sống của giáo xứ Các ơn gọi:

CÁC LINH MỤC TRIỀU:

1. Cha Anphongsô Hoàng Ngọc Bảo: sinh năm 1945. Thụ phong Linh Mục năm 1972 tại Sài G̣n.

2. Cha Phanxicô Saviê Nguyễn Viết Đoàn: sinh ngày 07/01/1956. Thụ phong Linh Mục ngày 27/09/1988 tại Di Linh.

3. Cha Giuse Đinh Công Hạnh: sinh năm 1944. Thụ phong Linh Mục ngày 25/5/1973 tại Đà Nẵng.

4. Cha Giuse Bùi Bằng Khấn: sinh năm 1947. Thụ phong Linh Mục ngày 28/04/1973 tại Sài G̣n.

5. Cha Đaminh Đinh Hữu Lộc: sinh năm 1933. Thụ phong Linh Mục năm 1966.

6. Cha Antôn Nguyễn Văn Quyết: sinh năm 1948. Thụ phong Linh Mục ngày 18/06/1983 tại Hoa Kỳ.

7. Cha Gioan Baotixita Lại Anh Tuấn: sinh năm 1955. Thụ phong Linh Mục ngày 22/09/1994.

8. Cha Phê-rô Tạ Anh Vũ: sinh ngày 09/09/1967. Thụ phong Linh Mục năm 2000 tại Đức (Germany).

CÁC LINH MỤC D̉NG:

1. Cha Giuse Trần Cao Chỉ, Ḍng Chúa Cứu Thế: sinh ngày 2/03/1971. Thụ phong linh Mục ngày 28/06/2006 tại tp.Hồ Chí Minh .

2. Cha Đaminh Lâm Đức Hùng, Ḍng Chúa Cứu Thế: sinh năm 1964. Thụ phong Linh Mục tháng 11/2004 tại Philippines.

3. Cha Gioan Baotixita Trần Như Hùng, Tu hội Đắc Lộ: sinh năm 1950. Thụ phong Linh Mục ngày 30/06/2001 tại tp. Hồ Chí Minh.

4.Cha Phê-rô Trần Quốc Hưng Long, Ḍng Vinh Sơn: sinh ngày 14/07/1972. Thụ phong Linh Mục ngày 27/09 2007.

5. Cha Antôn Trần Thế Phiệt , Ḍng Chúa Cứu Thế: sinh ngày 1/07/1947. Thụ phong Linh Mục ngày 21/06/1975 tại tp. Hồ Chí Minh.

6. Cha Giuse Trần Minh Thái, Ḍng Thánh Thể: sinh ngày 07/06/1959. Thụ phong Linh Mục ngày 16/04/1994 tại Hoa Kỳ.

7. Cha Vinh sơn Phạm Văn Trị (Chiến), Tụ hội Đăc Lộ: sinh năm 1944. Thụ phong Linh Mục ngày 08/12/1975 tại tp.Hồ Chí Minh.

CÁC TU SĨ & CÁC THẦY:

1. Thầy Giuse Phạm Hữu Chiến, Ḍng Đồng Công: tên Ḍng Irênê Maria Phạm Đức Thuần. Khấn trọn ngày 2/05/2005.

2. Thầy Vinh Sơn Đoàn Hùng Cường, Ḍng Đồng Công: tên Ḍng: Max.Kolbe Hoàng Phú. Khấn trọn ngày 25/03/2000.

3. Thầy Giuse Trần Văn Đắc, Ḍng Đồng Công: tên Ḍng : Giuse Trần Ngọc Huyến . Khấn trọn ngày 25/03/2000.

4. Thầy Giuse Nguyễn Đức Điền, Ḍng Đức Mẹ Đồng Công Cứu Chuộc: sinh năm 1979. Tên Ḍng :Gioankim Maria Nguyễn Quang Thiều. Khấn trọn ngày 13/05/2003.

5. Thầy Phê-rô Đoàn Quốc Đỉnh, Ḍng Đồng Công. Tên Ḍng:Đa Minh Maria Đoàn Phúc Nhạc. Khấn trọn ngày 25/03/2000.

6. Đan Sỉ Gioan Bosco Nguyễn Khánh Nhật, Ḍng Châu Sơn, sinh ngày 25/04/1971. Khấn trọn ngày 15/08/2005.

7. Thầy Laurensô Ninh Văn Nghiệm, Ḍng Đồng Công: sinh ngày 06/09/1976.Tên Ḍng Vianey Ninh Hữu Ngữ. Khấn trọn ngày 13/05/2003.

8. Thầy Giuse Vương Lê Ngọc, Ḍng Đồng Công: sinh năm 1956. Tên Ḍng Laurensô Maria Vương Chí Nguyện. Khấn trọn ngày 25/03/2000.

9. Thầy Vinh Sơn Đào Đ́nh Đạt, Tu hội tận Hiến : sinh năm 1963.

10. Thầy Phaolô Nguyễn Văn Thanh, Ḍng Đồng Công. Tên Ḍng Đaminh Maria Nguyễn Trấn Biên, Khấn trọn ngày 25/03/2000.

11. Thầy Phao-lô Nguyễn Quang Thao , Ḍng Đồng Công. Tên Ḍng Maccô Maria Nguyễn Đ́nh Trác. Khấn trọn ngày 25/03/2000.

12. Thầy Đaminh Trần Văn Thiệu, Ḍng Đồng Công: sinh năm 1959. Tên ḍng Nicola Trần Gia Thụy. Khấn ngày 25/03/1999.

13. Thầy Giuse Trịnh Bùi Tiến Văn, Ḍng Đức Mẹ Đồng Công Cứu Chuộc: sinh năm 1980. Tên Ḍng: Têphanô Maria Trịnh Hữu Lượng . Khấn trọn ngày 25/03/2005.

14. Giuse Lê Thanh Đề, Ḍng Phanxicô: sinh năm 1973.

15. Giuse Trần Đ́nh Phương, Ḍng Chúa Cứu Thế: sinh ngày 25/05/1979.

16. Gioan Baotixita Trần Quốc Chinh, Chủng Viện Thừa Sai Mẹ Thiên Chúa: sinh ngày 27/11/1974. Nhập tu từ 28/4/2000.

17. Antôn Nguyễn Văn Cung: sinh ngày 2/12/1968. Khấn trọn ngày 5/09/1995.

18. Giuse trịnh Bùi Anh Dũng: sinh năm 1975.

19. Giuse Trần Thành Công: sinh năm 1978.

20. Giuse Nguyễn Trường Thịnh, Ḍng Thánh tâm Hannibal: sinh ngày 20/12/1984. Nhập tu từ năm 2005.

21. Vinh Sơn Trần Xuân Điệp, Ḍng Thánh Tâm Hannibal: sinh ngày 15/07/1986.

CÁC D̀:

1. Maria Bùi Thị Linh Duyên, Ḍng Biển Đức: sinh ngày 25/04/1976.

2.Têrêsa Trần Thị Ngọc Đượm, Tu hội Tận Hiến: sinhy ngày 26/2/1975. Khấn trọn 11/07/2011.

3. Maria Nguyễn Thị thu Hà , Ḍng nữ Đaminh: sinh năm 1971. Khấn trọn tháng 8 năm 2000 .

4. Rosa Tạ thị Minh Hằng: sinh ngày 24/5/1963. Khấn trọn 7/10/1993.

5. Trần Thị Kim Hoa: sinh ngày 24/08/1955. Toàn hiến ngày 08/06/1997.

6. Têrêsa Nguyễn Thị Khánh Ḥa Ḍng Mến Thánh Giá Phát Diệm (G̣ Vấp): sinh ngày 8/9/1957. Khấn trọn ngày 12/6/1955.

7. Mai Trần Thị Huệ, Ḍng Con Đức Mẹ Phù Hộ: sinh Năm 1976.

8. Gioan Bosco Lê thị Hường, Ḍng Con Đức Mẹ Mân Côi: sinh năm 1979. Khấn tạm 3 năm 15/8/2002.

9. Maria Lưu thị Kính, Ḍng Con Đức Mẹ Mân Côi: sinh năm 1950. Khấn trọn năm 1972.

10. Rôsa Trần Thị Hồng Ngọc, Ḍng Đa Minh Tân Mai: sinh năm 1937.

11. Maria Lưu Thị Nguyên, Ḍng Con Đức Mẹ Phù Hộ: sinh năm 1956. Khấn trọn năm 1979.

12. Anna Bùi thị Nguyện, Ḍng Con Đức Mẹ Mân Côi: sinh năm 1949. Khấn trọn ngày 13/06/1969.

13. Maria Nguyễn Thị Phượng, Ḍng Nữ Tỳ Thánh Thể: sinh ngày 11/10/1967. Khấn trọn ngày 20/08/1999.

14. Maria Nguyễn Thị Kim Phượng, Ḍng Con Đức Mẹ Mân Côi: sinh năm 1980.

15. Maria Catarina Đinh Thị Ren, Ḍng Con Đức Mẹ Mân Côi: sinh năm 1948. Khấn trọn năm 1973.

16. Maria Lâm Thị Thanh, Ḍng Con Đức Mẹ Mân Côi: sinh năm 1948. Khấn trọn năm 1974.

17. Maria Bùi Thị Anh Thúy, Ḍng Con Đức Mẹ Mân Côi: sinh năm 1958. Khấn trọn 1980.

18. Maria Đào Thị Thanh Trang(Cậy), Ḍng Mến Thánh Giá Thủ Đức: sinh năm 1957. Khấn trọn 1978.

19. Têrêsa Lâm Ngọc Vy, Ḍng Nữ Tỳ Chúa Giê-su Linh Mục: sinh năm 1977.

20. Têrêsa Bùi Thị Bạch Yến, Ḍng Con Đức Mẹ Mân Côi: sinh năm 1962. Khấn trọn ngày 8/09/1995.

21. Têrêsa Trần Thị Kim Hoa, Tu hội Chúa Giê-su tôi tớ. Khấn Trọn năm 1977.

22. Têrêsa Vũ Thị Linh Đơn, Ḍng Nữ Đaminh Tam Hiệp: sinh ngày 20/07/1972. Khấn trọn ngày 07/08/2008.

23. Têrêsa Mai Thị Bạch Dương, Ḍng Nữ Đaminh Rosa Lima; sinh ngày 21/04/1982. Khấn lần đầu 1/08/2009.

24. Têrêsa Đinh Nguyễn Hội Mai Thanh Thanh, Ḍng kín: sinh năm 1985.

25. Têrêsa Nguyễn Thị Quỳnh Trâm, Ḍng Mến Thánh Giá Thủ Thiêm: sinh năm 1988.

26. Maria Hoàng Thị Kim Dung, Ḍng Mến Thánh Giá Đà Lạt: sinh ngày 12/02/1981. Tiên khấn ngày 28/5/2004.

27. Têrêsa Vương Thị Ánh Nguyệt, Ḍng Trinh Vương: sinh ngày 14/11/1986. Tiên khấn năm 2007.

28. Anna Nguyễn Thị Tuyết Trinh, Ḍng Trinh Vương: sinh ngày 8/01/19876. Tiên khấn năm 2007.

Giới thiếu nhi: sinh hoạt vào Thánh Lễ thứ 2 mỗi Chúa Nhật.

Giới trẻ :bổn mạng là Thánh Augustinô, lễ kính 28/8 hằng năm.

Giới Gia trưởng: bổn mạng là Thánh Giuse Thợ, lễ kính ngày 1/5 hằng năm.

Giới Hiền Mẫu bổn mạng là Thánh nữ Monica, lễ kính vào ngày 27/8 hằng năm.

Sự nghiệp truyền giáo:

TRONG QUÁ KHỨ:

Giáo dân luôn được kêu gọi quan tâm đến việc truyền giáo trong giáo xứ qua đời sống cầu nguyện, đạo hạnh và bác ái. Giáo xứ cũng có những đoàn thể như Legio mariae, Huynh đoàn Đaminh, giới Hiền Mẫu và một số giáo dân thiện chí lo truyền giáo trực tiếp qua công việc cụ thể: thăm viếng, giúp đỡ những người ngoại giáo c̣n nghèo trong Giáo xứ.

PHƯƠNG HƯỚNG HIỆN TẠI VÀ TƯƠNG LAI:

Phương hướng truyền giáo trên đă đem lại một số kết quả nhất định. Với khoảng 10% c̣n lại, khoảng 1000 người, chưa nhận biết Chúa, Giáo xứ vẫn tiếp tục áp dụng phương hướng truyền giáo trên nhưng sẽ cố gắng sắp sếp lại và cần được tổ chức chặt chẽ hơn.

Sự nghiện bác ái:

CƠ SỞ BÁC ÁI:

Pḥng phát thuốc: giáo xứ có 1 pḥng phát thuốc cho người dân tộc và người nghèo. Hiện nay, pḥng phát thuốc này ít hoạt đông thường xuyên v́ đời sống kinh tế của người dâ đă khá hơn.

Nhà trẻ: Giáo xứ hiện có 4 nhà trẻ:

Một nhà trẻ dành cho người dân tộc: Giáo xứ đỡ đầu cho nhà trẻ dành cho người dân tộc này dưới h́nh thức:

- Tiền lương giáo viên: nhà nước trả.

- Tiền ăn trưa, nước uống, dụng cụ học tập: Giáo xứ đảm nhận .

Ba Nhà trẻ của các Nữ tu Thuộc 3 Hội Ḍng: Mân Côi, Mến Thánh Giá Đà Lạt, Tu hội Nô Tỳ Thiên Chúa: nuôi giúp một số em học sinh dân tộc và gia d́nh nghèo.

CHƯƠNG TR̀NH BÁC ÁI:

Mỗi năm giúp người Nghèo trong Giáo xứ 2 lần:

1 lần giúp gạo1 lần giúp tiền
2. Giúp xây dựng nhà t́nh thương: Giáo xứ tự giúp hoặc cộng tác với các nhà hảo tâm và nhà nước.
3. Mỗi năm, Giáo xứ giành một số học bổng chgo một số sinh viên dân tộc và sinh viên nghèo.

Các cộng đoàn tu sĩ phục vụ:

Giáo xứ hiện có 4 cộng đoàn tu sĩ phục vụ, gồm có:

Một tu hội nam: Tu hội Đắc Lộ: có mặt tại giáo xứ Tân Bùi từ năm 1968. Cơ sở nằm trên địa bàn thơn Tân Thịnh để làm nhà nghỉ cho Tu hội. Từ đó lư tưởng của Tu hội được gieo rắc nơi đây.Đă có 2 linh mục và nhiều anh em đệ tử, tập tu là con em của Giáo xứ Tân Bùi xuất thân từ Tu hội. Các Cha, các Thầy tại đây đă và đang tham gia nhiều hoạt động tại Giáo xứ để giúp các Cha trong công tác mục vụ như: dạy Giáo lư, trao Ḿnh Thánh Chúa..Ba Tu hội nữ:Tu hội Mân Côi: có măt từ năm 1955, khi Giáo xứ mới thành lập. Các D́ đảm nhận mọi công tác trong Giáo xứ và được Cha xứ và dân Chúa ủy nhiệm. Đặc biệt chị em chú trọng công tác chuyên biệt cũa Ḍng như: giáo dục trẻ em về văn hóa, đức tin, nhân bản, phụ trách các lớp giáo lư Khai tâm, Căn bản, Kinh Thánh và hội úy các đoàn thể khi cần.

Tu hội Nô Tỳ Thiên Chúa: hiện diện tại Giáo xứ Tân Bùi từ ngày 13/7/2000. Ngoài việc sống theo linh đạo của Ḍng, các D́ c̣n tham gia nhiều công tác giáo dục và xă hội tại địa phương.

Tu hội Mến Thánh Giá Đà Lạt: hiện diện tại giáo xứ từ năm 2008. Cơ sở nằm tại Giáo họ Mẹ Thiên Chúa, Các D́ hiện giúp Giáo họ trong việc dạy Giáo lư, tập hát, và trông coi, quản lư Trường mần non Hoàng Lan.

Cộng đoàn tu sĩ gắn liền với sự h́nh thành Giáo xứ là Tu hội Mận Côi. Ngay từ tháng 3 năm 1955, các D́ đầu tiên đă có mặt và công tác giúp đợ các Cha trong nhiều lănh vực. Công việc của các D́ lúc đó là dạy học tại Trường công lập, Kư nhi viện của Cha quản Xứ , phụ trách y tế. Ngoài ra các D́ c̣n dạy các lớp Giáo lư , phụ trách thiếu nhi, Ca đoàn, cắm hoa nhà thờ, dọn Lễ...

Xây dựng cơ sở hạ tầng:

NHÀ THỜ THỨ NHẤT:

Nhà Thờ đầu tiên của của Giáo xứ Tân Bùi được h́nh thành dưới thời Cha Phaolô Vơ Quốc Ngữ. Tuy gọi là Nhà Thờ tuy thực tế chỉ là căn lều bạt được dựng lên tạm thời trong thời giam Giáo xứ mới thành lập năm 1954 để có nơi cử hành phụng vụ. Nhà Thờ thứ nhất của Giáo xứ v́ vậy chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn.

NHÀ THỜ THỨ HAI:

Nhà Thờ thứ hai được xây dựng dưới thời Cha Phê-rô Maria Nguyễn Xuân Tín, được làm bằng cây vuông, chung quanh ghép ván, lợp tôn, nền và hè tráng xi măng. Sau đó, khi Giáo Xứ có ngôi Nhà Thờ thứ 3, Nhà Thờ này được sử dụng làm Hội quán để các đoàn thể sinh hoạt như học Giáo lư, tập hát...

Cũng trong thời gian này, Giáo Xứ đặt mua một bộ chuông gồm 3 quả từ bên Pháp. Hiện bộ chuông này vẫn c̣n đang được sử dụng.

NHÀ THỜ THỨ BA:

Nhà Thờ được xây dựng lần thứ hai tuy vậy vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu của số giáo dân ngày càng đông, nên CXha Phê-rô Maria Nguyễn Xuân Tín một lần nữa lại tham khảo với Ban Hàng Xứ đặt vấn đề làm lại Nhà Thờ. Được sự nhất trí của mọi người, ngày 7/10/1956, Nhà Thờ được khởi công. Ngôi Nhà thờ này gồm 7 gian, dài 30m, ḷng 30m, cao 8m, sườn bằng cây vuông, lợp tôn, chung quanh bao móng bằng đá, tường xây gạch, nền tráng xi măng.

Tháng 9/1957, Đức Cha Phê-rô Maria Nguyện Ngọc Chi đặc trách đồng bào di cư về chủ lễ làm phép và khành thành Nhà Thờ này.

NHÀ THỜ THỨ TƯ:

Ngay khi vừa nhận Xứ, Cha Giuse Nguyễn Ngọc Châu đă xem xét vấn đề trùm tu hay kiến thiết Nhà Thờ.

Sau nhiều lần nghiên cứu, bàn thảo, cân nhắc hơn thiệt, xa gần , cuối cùng mọi người đều nhất trí đưa đến quyết định phải gấp rút kiến thiết Nhà Thờ.

Được Ṭa Giám Mục đặc biệt lưu tâm khuyến khích, chính quyền lúc đó cũng rất thông cảm về mọi mặt, chẳng những chấp thuận đơn xin " trùm tu " mà c̣n tích cực tạo điều kiện thuận tiện, nhờ đó công việc mới có thể bắt đầu và chia ra nhiều đợt. Khởi công từ tháng 3/1976 đến tháng 3/1977 , Nhà Thờ mới hoàn tất. Nhà Thờ được nới rộng trên nền cũ, chiều dài 48m, chiều ngang 17m, khung cột kèo bằng sắt, nền bao đá và tráng xi măng.

Nhà Thờ tuy gọi là hoàn tất nhưng mới chỉ là xác nhà, c̣n rất nhiều công việc bên trong phải thực hiện. Nhưng v́ t́nh trạng tài chánh ep hẹp, nên chỉ có thể làm dần dần theo khả năng và ưu tiên mỗi việc, kéo dài liên tục trong nhiều năm.

NHÀ THỜ THỨ NĂM:

Ngôi Thánh Đường hiện tại cùa Giáo Xứ Tân Bùi, là Nhà Thờ được xây dựng lần thứ 5 từ ngày thành lập Xứ, được khởi công ngày 9/9/1999, do Đức GIám Mục Phê-rô Nguyễn Văn Nhơn về làm lễ đăt viên đá đầu tiên.

Thời điểm đó số giáo dân đă tăng lên rất nhiều. Nhiều người từ mọi miền đất nước v́ mưu sinh đă đến đây lập nghiệp mỗi ngày một đông, trong số bà con Công Giáo chiếm 2/3 dân số xă Lộc Châu, nâng số dân Giáo Xứ Tân Bùi lên tới 15.000 ngàn người, ở trải dài từ đầu đèo Bảo Lộc tới giáp ranh Giáo xứ Mân Côi Tân Hà, Lộc Tiến.

Sau hơn một năm xây dựng, ngày 25/11/2000, lễ Tạ ơn và Cung hiến Thánh Đường Giáo Xứ Tân Bùi với tước hiệu Thánh Giuse đă được Đức Cha Giáo phận cử hành.

Thánh Đường tọa lạc trong một công viên rộng với diện tích 11.703 m2 , có rất nhiều cây xanh và thảm cỏ được thiết kế như một công viên với đường đi rộng răi, thuận tiện cho các buổi rước. Tháp chuông nằm bên trái cuối Nhà Thờ có chiều cao 28m, trên tháp là bộ chuông gồm 3 quả được mua bên Pháp từ khi Giáo Xứ mới thành lập dưới thời Cha Phê-rô Maria Nguyễn Xuân Tín. Đầu Nhà Thờ bên trái là tượng Đức Mẹ La Vang, bên phảo là phù điêu các Thánh Tử Đạo Việt Nam. Cuối Nhà Thờ sừng sững Tượng đài Thánh Giuse, quan thầy Giáo Xứ, nằm giữa hồ có hệ thống phun nước nghệ thuật.

Nh́n từ cuối Nhà Thờ vào, có thể thấy ngay mặt tiền Thánh Đường Giáo Xứ mang biểu tượng h́nh chữ

Nguồn : http://giaoxutanbui.net